Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Nghĩa vụ chịu chi phí giám định

Bình luận Điều 161 BLTTDS 2015 về nghĩa vụ chịu chi phí giám định, nguyên tắc phân bổ chi phí theo kết quả giám định và trạng thái tố tụng.

Điều 161. Nghĩa vụ chịu chi phí giám định

Trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí giám định được xác định như sau:

1. Người yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định phải chịu chi phí giám định, nếu kết quả giám định chứng minh yêu cầu của người đó là không có căn cứ. Trường hợp kết quả giám định chứng minh yêu cầu của họ chỉ có căn cứ một phần thì họ phải nộp chi phí giám định đối với phần yêu cầu của họ đã được chứng minh là không có căn cứ.

2. Người không chấp nhận yêu cầu trưng cầu giám định của đương sự khác trong vụ án phải nộp chi phí giám định, nếu kết quả giám định chứng minh yêu cầu của người yêu cầu trưng cầu giám định là có căn cứ. Trường hợp kết quả giám định chứng minh yêu cầu trưng cầu giám định chỉ có căn cứ một phần thì người không chấp nhận yêu cầu trưng cầu giám định phải chịu chi phí giám định tương ứng với phần yêu cầu đã được chứng minh là có căn cứ.

3. Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật này thì nguyên đơn phải chịu chi phí giám định.

Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều 296 của Bộ luật này thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí giám định;

4. Trường hợp người tự mình yêu cầu giám định theo quy định tại khoản 3 Điều 160 của Bộ luật này, nếu kết quả giám định chứng minh yêu cầu của người đó là có căn cứ thì người thua kiện phải chịu chi phí giám định. Trường hợp kết quả giám định chứng minh yêu cầu giám định của họ chỉ có căn cứ một phần thì họ phải nộp chi phí giám định đối với phần yêu cầu của họ đã được chứng minh là không có căn cứ;

5. Đối với các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác theo quy định của Bộ luật này thì người yêu cầu trưng cầu giám định phải chịu chi phí giám định.

Trọng tâm điều luật: phân bổ chi phí gắn với kết quả giám định

Điều 161 xác lập nguyên tắc cơ bản: nghĩa vụ chịu chi phí giám định phụ thuộc vào kết quả giám định và thái độ tố tụng của từng bên. Cách thiết kế này hướng tới sự công bằng: bên yêu cầu hoặc bác bỏ yêu cầu giám định nhưng không đúng sẽ phải gánh chi phí tương ứng. Đồng thời, điều luật khuyến khích các bên cân nhắc kỹ lưỡng trước khi yêu cầu giám định hoặc phản đối giám định trong quá trình giải quyết vụ án.

Điều kiện áp dụng: chỉ khi không có thỏa thuận hoặc quy định khác

Một điều kiện quan trọng thường bị bỏ qua là Điều 161 chỉ vận dụng khi các bên không có thỏa thuận khác về chi phí giám định và pháp luật không có quy định chuyên biệt khác. Nếu có thỏa thuận hợp lệ về việc phân chia chi phí giám định, Tòa án phải tôn trọng theo điểm a khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, trừ khi thỏa thuận đó vi phạm điều cấm hoặc trái đạo đức xã hội. Người áp dụng pháp luật cần luôn kiểm tra: (i) có thỏa thuận về chi phí giám định hay chưa; (ii) có luật chuyên ngành khác điều chỉnh riêng chi phí giám định hay không, trước khi vận dụng Điều 161.

Nguyên tắc “phân bổ theo phần đúng – sai” của yêu cầu giám định

Khoản 1 và khoản 2 thể hiện cơ chế phân bổ chi phí tinh chỉnh trên cơ sở phần yêu cầu được chứng minh là có căn cứ hoặc không có căn cứ. Người yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định sẽ chịu chi phí nếu kết quả giám định cho thấy yêu cầu là không có căn cứ; nếu chỉ đúng một phần, họ chỉ phải chịu chi phí đối với phần không có căn cứ. Ngược lại, người không chấp nhận yêu cầu giám định của bên kia sẽ phải chịu chi phí nếu kết quả giám định chứng minh yêu cầu giám định là có căn cứ, và cũng phân bổ theo tỷ lệ phần yêu cầu được chứng minh có căn cứ. Qua đó, điều luật buộc các bên cân nhắc kỹ trước khi đưa ra lập trường tố tụng cực đoan (yêu cầu hoặc bác bỏ giám định), vì mỗi phần “sai” trong lập luận đều có thể dẫn đến nghĩa vụ chi phí tương ứng.

Các trường hợp đình chỉ và quyền kháng cáo gắn với nghĩa vụ chi phí

Khoản 3 và khoản 5 điều chỉnh riêng các tình huống đình chỉ giải quyết vụ án. Trường hợp đình chỉ theo điểm c khoản 1 Điều 217 và điểm b khoản 1 Điều 299 BLTTDS 2015, nguyên đơn phải chịu chi phí giám định, phản ánh nguyên tắc: bên khởi kiện nhưng để vụ án bị đình chỉ do lỗi hoặc lựa chọn của mình thì phải gánh chi phí đã phát sinh. Tương tự, khi đình chỉ xét xử phúc thẩm theo điểm b khoản 1 Điều 289 và khoản 3 Điều 296 BLTTDS 2015, người kháng cáo phải chịu chi phí giám định, bảo đảm người dùng quyền kháng cáo không được đẩy chi phí vô lý sang bên kia khi vụ việc không tiếp tục giải quyết ở cấp phúc thẩm. Đối với các trường hợp đình chỉ khác, khoản 5 quy định người yêu cầu trưng cầu giám định phải chịu chi phí, khép kín các kịch bản đình chỉ để tránh khoảng trống pháp lý.

Giám định do đương sự tự yêu cầu và mối liên hệ với kết quả xét xử

Khoản 4 tạo cơ chế đặc biệt cho trường hợp đương sự tự mình yêu cầu giám định theo khoản 3 Điều 160 BLTTDS 2015. Nếu kết quả giám định chứng minh yêu cầu là có căn cứ và kết quả đó được sử dụng trong xét xử, người thua kiện phải chịu chi phí giám định, phù hợp nguyên tắc chung: bên thua kiện gánh chịu chi phí gắn với phần yêu cầu bị bác hoặc nghĩa vụ được xác lập. Tuy nhiên, nếu kết quả giám định chỉ đúng một phần, người yêu cầu giám định vẫn phải chịu chi phí tương ứng phần không có căn cứ. Cơ chế này tránh việc bên đương sự “đặt cược” toàn bộ chi phí giám định lên bên thua kiện, đồng thời vẫn bảo vệ người có yêu cầu giám định hợp lý, chính đáng.

Những nhầm lẫn thường gặp và lưu ý thực tiễn

Nhầm lẫn về nguyên tắc “bên thua kiện chịu toàn bộ chi phí giám định”

Một hiểu sai phổ biến là cho rằng bên thua kiện đương nhiên phải chịu toàn bộ chi phí giám định. Điều 161 cho thấy nguyên tắc áp dụng tinh tế hơn: chi phí được phân bổ gắn với phần yêu cầu giám định có căn cứ hoặc không có căn cứ, và với hành vi tố tụng cụ thể (yêu cầu, không chấp nhận, kháng cáo, gây đình chỉ). Vì vậy, trong vụ án có nhiều yêu cầu giám định, hoặc kết luận giám định đa chiều, Tòa án phải tách bạch từng phần để phân bổ chi phí phù hợp, không thể áp dụng máy móc theo kết quả thắng – thua chung cuộc.

Lưu ý về lập luận khi đề nghị Tòa án quyết định chi phí giám định

Trong thực tiễn, chi phí giám định thường lớn, đặc biệt với các giám định chuyên sâu (giám định tài sản, giám định y khoa, định giá quyền sở hữu trí tuệ...). Đương sự và luật sư cần chủ động chuẩn bị lập luận chứng minh: (i) mình là bên có yêu cầu giám định đúng, hoặc (ii) việc không chấp nhận yêu cầu giám định của bên kia là có cơ sở, để hạn chế nghĩa vụ chi phí. Khi soạn thảo đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giám định, hoặc bản tự khai, cần lưu dấu việc ai là người đưa ra yêu cầu giám định, ai phản đối, và phạm vi từng yêu cầu để Tòa án có căn cứ phân bổ chi phí chính xác theo cấu trúc Điều 161.

Nếu cả hai bên cùng yêu cầu giám định nhưng kết quả chỉ có lợi cho một bên thì ai chịu chi phí giám định?
Tòa án sẽ xem xét phần yêu cầu giám định nào có căn cứ để phân bổ chi phí; bên có yêu cầu không có căn cứ phải chịu chi phí tương ứng phần sai.
Nguyên đơn có được thỏa thuận với bị đơn trước về việc chia đôi chi phí giám định không?
Các bên được phép thỏa thuận hợp lệ về việc phân chia chi phí giám định; khi đó Tòa án sẽ ưu tiên áp dụng theo thỏa thuận nếu không trái luật.
Trong vụ án bị đình chỉ do nguyên đơn rút đơn khởi kiện, chi phí giám định phân bổ thế nào?
Trường hợp đình chỉ thuộc điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015, nguyên đơn phải chịu chi phí giám định theo quy định tại khoản 3 Điều 161.
Nếu tôi tự đi giám định trước khi khởi kiện và sau đó thắng kiện thì có được yêu cầu bên thua kiện trả chi phí giám định?
Nếu giám định theo khoản 3 Điều 160 và kết quả được dùng trong xét xử, người thua kiện phải chịu chi phí phần yêu cầu giám định có căn cứ.
Bị đơn phản đối yêu cầu giám định của nguyên đơn nhưng giám định lại có lợi cho nguyên đơn, bị đơn có phải chịu chi phí?
Theo khoản 2 Điều 161, người không chấp nhận yêu cầu giám định phải chịu chi phí tương ứng phần yêu cầu đã được chứng minh là có căn cứ.
Mục lục văn bản