Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ
Bình luận Điều 157 BLTTDS 2015 về nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, các trường hợp áp dụng và lưu ý thực tiễn.
Điều 157. Nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ
Trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ được xác định như sau:
1. Đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận.
2. Trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản chung thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia.
3. Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
4. Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật này thì nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều 296 của Bộ luật này thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
5. Đối với các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác theo quy định của Bộ luật này thì người yêu cầu xem xét, thẩm định phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Ý nghĩa và mục đích điều chỉnh của Điều 157
Điều 157 thiết lập cơ chế phân bổ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ giữa các đương sự theo hướng gắn trách nhiệm tài chính với hành vi tố tụng và kết quả vụ việc. Cách quy định này vừa bảo đảm nguyên tắc bên yêu cầu phải cân nhắc hợp lý khi đề nghị Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ, vừa tránh việc ngân sách nhà nước phải gánh chi phí cho những yêu cầu không có căn cứ. Đồng thời, điều luật định ra các trường hợp đặc thù (chia tài sản chung, ly hôn, đình chỉ) để bảo đảm tính công bằng, phù hợp với bản chất quan hệ tranh chấp.
Điều kiện “kích hoạt” nghĩa vụ chịu chi phí
Điều 157 chỉ áp dụng khi có phát sinh chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo thủ tục tố tụng dân sự, và các bên không có thỏa thuận khác, pháp luật chuyên ngành không có quy định khác. Như vậy, trước hết phải có quyết định của Tòa án về việc xem xét, thẩm định tại chỗ và thực tế có chi phí liên quan. Thứ hai, không tồn tại thỏa thuận hợp lệ giữa các đương sự về việc bên nào chịu hoặc phân chia chi phí. Thứ ba, không có điều luật khác (ví dụ trong luật chuyên ngành) buộc một chủ thể cụ thể phải chịu chi phí này.
Nguyên tắc chung: bên yêu cầu không được chấp nhận phải chịu chi phí
Trọng tâm của khoản 1 là nguyên tắc ai yêu cầu sai, người đó chịu chi phí: nếu yêu cầu dẫn tới việc Tòa án phải xem xét, thẩm định tại chỗ mà cuối cùng không được chấp nhận thì đương sự yêu cầu phải chịu chi phí tương ứng. Điều này nhằm hạn chế yêu cầu thẩm định tại chỗ mang tính thăm dò, kéo dài tố tụng hoặc làm tăng chi phí không cần thiết. Trong thực tiễn, khi tư vấn cho khách hàng, cần đánh giá kỹ khả năng yêu cầu được chấp nhận trước khi đề nghị xem xét, thẩm định tại chỗ để tránh nghĩa vụ chi phí bất lợi.
Trường hợp chia tài sản chung: phân chia theo giá trị phần được hưởng
Khoản 2 thể hiện cách tiếp cận công bằng: khi yêu cầu Tòa án chia tài sản chung, mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí tương ứng với giá trị phần tài sản họ được chia. Bản chất ở đây là chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ phục vụ cho toàn bộ việc phân định, định giá khối tài sản chung, nên không gắn với “thắng - thua” mà gắn với lợi ích vật chất đương sự thực tế nhận được. Điểm cần lưu ý là tỷ lệ chi phí không tính theo số lượng người mà tính theo giá trị phần tài sản, nên bên nhận phần tài sản có giá trị lớn chịu tỷ lệ chi phí cao hơn.
Vụ án ly hôn: nguyên đơn luôn chịu chi phí, trừ trường hợp thuận tình
Khoản 3 đi theo hướng đặc thù của tranh chấp hôn nhân gia đình: trong vụ án ly hôn đơn phương, nguyên đơn phải nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, không phụ thuộc việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu. Điều này phản ánh việc nguyên đơn là bên khởi xướng thủ tục và tạo ra nhu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ (thường liên quan đến nhà đất, tài sản, điều kiện sống). Trong trường hợp thuận tình ly hôn, mỗi bên phải chịu một nửa chi phí, thể hiện sự bình đẳng và cùng ý chí chấm dứt hôn nhân. Đương sự thường nhầm rằng nếu yêu cầu không được chấp nhận thì sẽ không phải chịu chi phí, nhưng quy định ở đây loại trừ nguyên tắc khoản 1.
Các trường hợp đình chỉ giải quyết và hệ quả chi phí
Đình chỉ ở sơ thẩm: nguyên đơn chịu
Khoản 4 quy định rõ: nếu vụ án bị đình chỉ theo các căn cứ tại điểm c khoản 1 Điều 217 (ví dụ nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện), điểm b khoản 1 Điều 299 BLTTDS 2015, thì nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Lý do là chính hành vi tố tụng của nguyên đơn dẫn đến việc vụ án không được tiếp tục giải quyết, trong khi chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đã phát sinh. Đây là cơ chế ngăn ngừa việc khởi kiện rồi rút đơn tùy tiện sau khi đã yêu cầu nhiều hoạt động tố tụng tốn kém.
Đình chỉ ở phúc thẩm: người kháng cáo chịu
Cũng theo khoản 4, nếu việc xét xử phúc thẩm bị đình chỉ theo điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều 296 BLTTDS 2015, thì người kháng cáo phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Cấu trúc tương tự: người kháng cáo là bên chủ động yêu cầu xem xét lại bản án, bản ghi nhận; nếu quá trình phúc thẩm bị đình chỉ bởi hành vi hoặc tình trạng pháp lý của người kháng cáo, họ phải chịu chi phí đã phát sinh từ việc xem xét, thẩm định tại chỗ phục vụ cho phúc thẩm.
Các trường hợp đình chỉ khác: người yêu cầu xem xét, thẩm định chịu
Khoản 5 đóng vai trò “điều khoản chốt”, áp dụng cho các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác theo BLTTDS 2015 không nằm trong khoản 4. Nguyên tắc là người yêu cầu xem xét, thẩm định phải chịu chi phí. Cách quy định này bảo đảm tính đầy đủ, tránh bỏ sót các trường hợp đình chỉ khác mà nếu không quy định sẽ khó xác định nghĩa vụ chi phí. Khi áp dụng, cần đối chiếu căn cứ đình chỉ cụ thể với điều luật để xác định ai là người đã yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ.
Nhầm lẫn thường gặp và lưu ý thực tiễn
Thứ nhất, nhiều đương sự hiểu nhầm rằng nếu Tòa án không sử dụng kết quả thẩm định tại chỗ hoặc yêu cầu của họ chỉ được chấp nhận một phần thì sẽ không phải chịu chi phí; trong khi điều luật tập trung vào việc yêu cầu được chấp nhận hay không, và từng trường hợp đặc thù (chia tài sản chung, ly hôn, đình chỉ) được quy định riêng. Thứ hai, đương sự đôi khi không chú ý đến quyền thỏa thuận về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; nếu có thỏa thuận hợp lệ, Điều 157 chỉ mang tính bổ sung khi không có thỏa thuận. Thứ ba, cần phân biệt chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với án phí, lệ phí: án phí, lệ phí chịu theo điều luật riêng, còn Điều 157 chỉ điều chỉnh nghĩa vụ chi trả chi phí cho hoạt động tố tụng cụ thể này.
Trong thực tiễn, người hành nghề nên khuyến nghị khách hàng: (i) chỉ yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ khi thật sự cần, có khả năng tạo ra khác biệt trong kết quả giải quyết vụ việc; (ii) chủ động thỏa thuận phân chia chi phí trong hợp đồng hoặc văn bản tiền tố tụng; (iii) nắm rõ các trường hợp đình chỉ để ước lượng rủi ro chi phí khi quyết định rút đơn, rút kháng cáo hoặc thực hiện các hành vi tố tụng khác.