Điều 153 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Nghĩa vụ chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài

Bình luận Điều 153 BLTTDS 2015 về nghĩa vụ chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài trong các vụ việc dân sự và hôn nhân.

Điều 153. Nghĩa vụ chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài

Trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài được xác định như sau:

1. Đương sự phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài nếu yêu cầu giải quyết vụ việc của họ không được Tòa án chấp nhận.

2. Trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản chung thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài tương ứng với tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia.

3. Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.

4. Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật này thì nguyên đơn phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.

Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều 296 của Bộ luật này thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.

5. Đối với các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác theo quy định của Bộ luật này thì người yêu cầu phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.

1. Mục đích và ý nghĩa của việc phân bổ chi phí

Điều 153 nhằm thiết lập cơ chế phân bổ chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài rõ ràng, nhất quán, tránh tranh chấp thứ cấp về tiền tố tụng. Quy định gắn nghĩa vụ chi phí với người khởi xướng, hưởng lợi hoặc làm phát sinh thủ tục ủy thác, qua đó bảo đảm nguyên tắc chịu trách nhiệm về yêu cầu của mình trong tố tụng dân sự. Đồng thời, điều luật khuyến khích đương sự cân nhắc kỹ giữa lợi ích mong muốn và chi phí phát sinh khi có yếu tố nước ngoài.

2. Nguyên tắc chung: gắn chi phí với kết quả yêu cầu

Khoản 1 thể hiện nguyên tắc cơ bản: nếu yêu cầu của đương sự không được Tòa án chấp nhận thì họ phải chịu chi phí ủy thác. Trọng tâm là mối liên hệ giữa chi phí bỏ ra để thực hiện ủy thác và kết quả pháp lý của yêu cầu. Quy định này phân biệt với án phí, lệ phí: án phí gắn với bản án, còn chi phí ủy thác là khoản độc lập, phát sinh do cần thực hiện thủ tục tố tụng với cơ quan, tổ chức nước ngoài. Người áp dụng cần tách bạch hai loại nghĩa vụ để tránh nhầm lẫn.

3. Chia tài sản chung: phân bổ theo tỷ lệ giá trị phần được chia

Khoản 2 đặt ra cơ chế phân bổ theo tỷ lệ giá trị tài sản thay vì theo tư cách nguyên đơn, bị đơn. Trong yêu cầu chia tài sản chung, mỗi người được chia tài sản phải chịu chi phí tương ứng với phần giá trị họ nhận được, phản ánh nguyên tắc lợi ích – nghĩa vụ tương ứng. Lưu ý quan trọng là chi phí không phụ thuộc vào việc ai là người khởi kiện; sau khi chia, việc phân bổ chi phí phải căn cứ vào kết quả chia tài sản theo bản án, quyết định. Đây là điểm dễ bị hiểu sai nếu chỉ nhìn vào tư cách tố tụng mà bỏ qua tiêu chí giá trị tài sản được hưởng.

4. Vụ án ly hôn: nguyên tắc đặc thù

Khoản 3 thiết lập chế độ đặc thù cho vụ án ly hôn. Trong ly hôn đơn phương, nguyên đơn phải nộp chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, không phụ thuộc Tòa án có chấp nhận hay không yêu cầu, thể hiện quan điểm người khởi xướng chấm dứt hôn nhân chịu rủi ro chi phí liên quan đến yếu tố nước ngoài. Đối với thuận tình ly hôn, mỗi bên chịu một nửa chi phí, phù hợp tính chất đồng thuận, không đặt nặng yếu tố “thắng – thua” trong quan hệ hôn nhân. Khi tư vấn, cần giải thích rõ cho đương sự rằng đây là quy tắc riêng của ly hôn, không áp dụng cơ chế “thua chịu” như các tranh chấp dân sự khác.

5. Đình chỉ vụ án, phúc thẩm: người làm phát sinh thủ tục chịu chi phí

Khoản 4 và khoản 5 quy định việc phân bổ chi phí trong trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án, đình chỉ xét xử phúc thẩm. Theo đó, nguyên đơn hoặc người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí ủy thác khi việc giải quyết bị đình chỉ theo các căn cứ được viện dẫn trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Nguyên tắc xuyên suốt là: người làm phát sinh yêu cầu tố tụng dẫn đến ủy thác mà vụ việc lại không tiếp tục giải quyết thì phải chịu chi phí. Đối với các trường hợp đình chỉ khác, người yêu cầu phải chịu, giúp tránh việc đương sự lạm dụng quyền yêu cầu tòa án, rồi sau đó đình chỉ mà không gánh trách nhiệm chi phí.

6. Điều kiện áp dụng và lưu ý thực tiễn

Điều 153 chỉ áp dụng khi phát sinh ủy thác tư pháp ra nước ngoài, tức là có yêu cầu thực hiện hoạt động tố tụng với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tại nước ngoài theo quy định về tương trợ tư pháp. Không phải mọi vụ việc có yếu tố nước ngoài đều phát sinh chi phí này; chỉ khi tòa án thực hiện ủy thác (tống đạt, thu thập chứng cứ, lấy lời khai…) mới đặt vấn đề phân bổ chi phí theo Điều 153. Trong thực tiễn, nhầm lẫn thường gặp là coi chi phí ủy thác như một phần án phí hoặc lệ phí tòa án, dẫn đến sai sót khi tính toán nghĩa vụ tài chính và thỏa thuận với khách hàng. Khi áp dụng, cần kiểm tra: (i) có quyết định, yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài hay không; (ii) loại vụ việc cụ thể (chia tài sản, ly hôn, kháng cáo phúc thẩm, đình chỉ…); (iii) chủ thể đã khởi xướng hoặc hưởng lợi từ việc giải quyết để xác định đúng người chịu chi phí.

Chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài khác gì án phí trong vụ án dân sự?
Chi phí ủy thác là khoản chi riêng cho hoạt động ủy thác ra nước ngoài, tách biệt án phí và lệ phí; được phân bổ theo Điều 153, không trùng với án phí.
Trong ly hôn đơn phương có yếu tố nước ngoài, ai phải chịu chi phí ủy thác tư pháp?
Nguyên đơn ly hôn đơn phương phải nộp chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, không phụ thuộc việc Tòa án chấp nhận hay không yêu cầu ly hôn.
Vụ việc chia tài sản chung có người ở nước ngoài thì chi phí ủy thác được chia thế nào?
Mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí ủy thác tư pháp tương ứng với tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia theo bản án, quyết định.
Nếu vụ án bị đình chỉ do người khởi kiện rút yêu cầu thì ai chịu chi phí ủy thác?
Trong trường hợp đình chỉ theo quy định tương ứng của Bộ luật Tố tụng dân sự, người yêu cầu hoặc nguyên đơn là người phải chịu chi phí ủy thác tư pháp.
Vụ án có yếu tố nước ngoài nhưng không ủy thác tư pháp thì Điều 153 có áp dụng không?
Không. Điều 153 chỉ áp dụng khi có hoạt động ủy thác tư pháp ra nước ngoài; nếu không phát sinh ủy thác thì không đặt vấn đề chi phí theo điều này.
Mục lục văn bản