Điều 146 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí
Bình luận Điều 146 BLTTDS 2015 về nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí và lưu ý khi áp dụng trong vụ án, việc dân sự.
Điều 146. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí
1. Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí.
2. Người nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải nộp tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự đó, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí.
Đối với yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thì vợ, chồng có thể thỏa thuận về việc nộp tiền tạm ứng lệ phí, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí theo quy định của pháp luật. Trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận được người nộp tiền tạm ứng lệ phí thì mỗi người phải nộp một nửa tiền tạm ứng lệ phí.
1. Mục tiêu của quy định về tạm ứng án phí, lệ phí
Điều 146 đặt ra nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí như một điều kiện thủ tục bắt buộc để Tòa án xem xét thụ lý vụ án, việc dân sự, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp. Mục tiêu là gắn trách nhiệm tài chính với hành vi khởi kiện, yêu cầu, kháng cáo, qua đó hạn chế việc khởi kiện, kháng cáo tràn lan, đồng thời bảo đảm nguồn thu cho ngân sách chi trả hoạt động tố tụng. Quy định cũng tạo sự minh bạch về chủ thể chịu chi phí sơ bộ, tránh tranh chấp về nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí, lệ phí trong quá trình giải quyết.
2. Chủ thể phải nộp tạm ứng án phí, lệ phí – điểm cần nắm
Điều luật xác định rõ từng nhóm chủ thể gắn với từng loại thủ tục. Đối với vụ án dân sự, nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm. Đối với thủ tục phúc thẩm, người kháng cáo có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, nếu không thuộc diện miễn hoặc không phải nộp. Với việc dân sự, người nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải nộp tiền tạm ứng lệ phí.
3. Điều kiện “kích hoạt” nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí, lệ phí
Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí được đặt ra khi các điều kiện sau đồng thời xuất hiện: (i) có hành vi khởi kiện, đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, kháng cáo hoặc nộp đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự; (ii) thuộc trường hợp pháp luật không quy định miễn, không phải nộp tạm ứng; (iii) khoản tạm ứng đã được Tòa án tính toán, thông báo theo Luật án phí, lệ phí Tòa án và văn bản hướng dẫn. Chỉ khi người có nghĩa vụ hoàn thành việc nộp tạm ứng đúng thời hạn, đúng mức thì thủ tục thụ lý, chuyển sang các bước tiếp theo mới được thực hiện.
4. Cơ chế đặc thù với yêu cầu thuận tình ly hôn
Đối với yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, Điều 146 ghi nhận sự linh hoạt: vợ, chồng được quyền thỏa thuận ai là người nộp tiền tạm ứng lệ phí. Nếu không đạt được thỏa thuận, mỗi bên phải nộp một nửa tiền tạm ứng lệ phí. Cách thiết kế này phản ánh tính chất của việc thuận tình ly hôn là sự đồng thuận về quyền và nghĩa vụ, trong đó có nghĩa vụ tài chính phát sinh từ việc yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Những nhầm lẫn thường gặp trong thực tiễn
Một nhầm lẫn phổ biến là đồng nhất nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí với nghĩa vụ nộp án phí, lệ phí sau khi vụ án, việc dân sự kết thúc. Tạm ứng chỉ là khoản nộp trước, để bảo đảm chi phí thủ tục, còn nghĩa vụ chịu án phí, lệ phí cuối cùng phụ thuộc vào kết quả giải quyết và phán quyết của Tòa án. Một nhầm lẫn khác là cho rằng chỉ nguyên đơn mới phải nộp tạm ứng án phí, trong khi Điều 146 đã quy định rõ cả bị đơn có yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng phải nộp. Ngoài ra, đôi khi người kháng cáo quên hoặc chậm nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, dẫn đến kháng cáo bị coi là không thực hiện đúng thủ tục.
6. Lưu ý khi áp dụng trong thực tiễn
Trong thực hành tố tụng, cần phân biệt rõ vụ án dân sự và việc dân sự để xác định đúng nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí hay lệ phí. Người tiến hành khởi kiện, kháng cáo, nộp đơn yêu cầu cần chú ý thời hạn nộp tạm ứng theo thông báo của Tòa án và giữ lại chứng từ nộp tiền để xuất trình khi cần. Khi tư vấn, luật sư phải kiểm tra khả năng thuộc diện miễn, giảm theo Luật án phí, lệ phí Tòa án để tránh yêu cầu khách hàng nộp tạm ứng không cần thiết. Đối với thuận tình ly hôn, cần trao đổi rõ từ đầu về việc phân chia nghĩa vụ nộp tạm ứng lệ phí, nhất là khi tài chính là vấn đề nhạy cảm giữa hai bên.