Điều 140 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

Bình luận Điều 140 BLTTDS 2015 về quyền khiếu nại, kiến nghị đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Điều 140. Khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

Đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc việc Thẩm phán không quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Thời hạn khiếu nại, kiến nghị là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc trả lời của Thẩm phán về việc không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Ý nghĩa và mục đích của cơ chế khiếu nại, kiến nghị

Điều 140 nhằm tạo đối trọng và cơ chế kiểm soát đối với quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của Thẩm phán. Cơ chế này vừa bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trước các quyết định can thiệp mạnh mẽ vào tài sản, quan hệ dân sự, vừa bảo đảm vai trò giám sát của Viện kiểm sát đối với hoạt động tố tụng. Việc đặt thời hạn rất ngắn nhấn mạnh yêu cầu xử lý nhanh để không làm mất ý nghĩa khẩn cấp của biện pháp.

Chủ thể và phạm vi quyền khiếu nại, kiến nghị

Đương sự có quyền khiếu nại đối với cả bốn nhóm tình huống: áp dụng, thay đổi, hủy bỏ và không áp dụng, không thay đổi, không hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Điều này khẳng định quyền tiếp cận công lý của đương sự trước mọi quyết định (hoặc sự không quyết định) tác động trực tiếp đến quyền lợi của họ. Viện kiểm sát không khiếu nại mà sử dụng quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án, thể hiện sự khác biệt về vị thế: Viện kiểm sát giám sát tính hợp pháp, còn đương sự bảo vệ lợi ích riêng.

Điều kiện kích hoạt quyền khiếu nại, kiến nghị

Quyền khiếu nại, kiến nghị chỉ phát sinh khi đã có quyết định về biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc có trả lời của Thẩm phán về việc không ra quyết định. Nếu Thẩm phán im lặng, chưa ban hành quyết định hoặc chưa có văn bản trả lời chính thức, việc xác định thời điểm bắt đầu thời hạn khiếu nại, kiến nghị trở nên khó khăn và dễ phát sinh tranh chấp. Vì vậy trong thực tiễn cần yêu cầu Thẩm phán thể hiện rõ quan điểm bằng văn bản hoặc biên bản tố tụng để làm mốc tính thời hạn.

Thời hạn 03 ngày làm việc và lưu ý thực tiễn

Thời hạn 03 ngày làm việc là rất ngắn, phản ánh yêu cầu khẩn trương trong giải quyết yêu cầu liên quan biện pháp khẩn cấp tạm thời. Thời hạn được tính từ ngày đương sự hoặc Viện kiểm sát nhận được quyết định hoặc trả lời của Thẩm phán, không phải từ ngày ký quyết định; vì vậy việc chứng minh thời điểm nhận (biên nhận, dấu bưu điện, chữ ký trên thông báo…) có ý nghĩa quyết định. Hết thời hạn này, quyền khiếu nại, kiến nghị về chính quyết định đó bị hạn chế đáng kể, các bên thường phải chuyển sang các cơ chế tố tụng khác (ví dụ đề nghị áp dụng biện pháp mới, chứng cứ mới).

Những nhầm lẫn thường gặp

Một nhầm lẫn phổ biến là coi khiếu nại, kiến nghị theo Điều 140 giống như kháng cáo bản án, quyết định giải quyết vụ án. Thực tế đây là thủ tục tố tụng đặc thù, mang tính nội bộ trong quá trình giải quyết vụ án, nhằm kiểm soát việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, không phải cơ chế xét xử phúc thẩm. Nhầm lẫn thứ hai là cho rằng chỉ được khiếu nại khi có thiệt hại thực tế; tuy nhiên điều luật trao quyền khiếu nại trên cơ sở quyết định tố tụng có ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp, không yêu cầu phải chứng minh thiệt hại đã xảy ra. Cuối cùng, nhiều người bỏ sót quyền khiếu nại đối với trường hợp Thẩm phán không ra quyết định, trong khi đây là điểm bảo vệ quyền quan trọng.

Lưu ý khi áp dụng trong tình huống cụ thể

Khi áp dụng Điều 140, cần xác định rõ: (i) hành vi bị phản đối là quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hay việc từ chối ra quyết định; (ii) chủ thể nộp là đương sự hay Viện kiểm sát để lựa chọn hình thức khiếu nại hoặc kiến nghị phù hợp; (iii) bảo đảm nộp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kèm theo chứng cứ về thời điểm nhận quyết định hoặc trả lời. Nội dung khiếu nại, kiến nghị nên tập trung vào các căn cứ pháp lý và thực tế chứng minh việc áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là không cần thiết, không tương xứng hoặc trái quy định, tránh trình bày dàn trải, cảm tính.

Đương sự có được khiếu nại việc Thẩm phán không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không?
Có. Điều 140 ghi nhận quyền khiếu nại đối với cả trường hợp Thẩm phán không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Thời hạn 03 ngày làm việc được tính từ khi nào trong khiếu nại theo Điều 140?
Thời hạn được tính từ ngày chủ thể nhận được quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc văn bản trả lời của Thẩm phán về việc không ra quyết định.
Viện kiểm sát sử dụng hình thức gì để phản đối quyết định về biện pháp khẩn cấp tạm thời?
Viện kiểm sát không khiếu nại mà sử dụng quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 140.
Nếu quá thời hạn 03 ngày làm việc thì còn khiếu nại được không?
Hết thời hạn 03 ngày làm việc, quyền khiếu nại, kiến nghị đối với quyết định cụ thể đó về cơ bản không còn, các bên nên cân nhắc yêu cầu biện pháp mới hoặc sử dụng cơ chế tố tụng khác.
Khi Thẩm phán im lặng, không trả lời yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì xử lý thế nào?
Cần yêu cầu Thẩm phán thể hiện quan điểm bằng văn bản hoặc biên bản để làm mốc thời hạn; nếu tiếp tục im lặng, đương sự xem xét phản ánh lên Chánh án hoặc Viện kiểm sát.
Mục lục văn bản