Điều 119 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động
Bình luận pháp lý Điều 119 BLTTDS 2015 về tạm đình chỉ quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng, sa thải người lao động.
Điều 119. Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động
Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, sa thải người lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc không được xử lý kỷ luật sa thải đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động.
Vị trí và mục đích của cơ chế tạm đình chỉ
Điều 119 nhằm bảo đảm hiệu quả của các quy định bảo vệ người lao động trong pháp luật lao động bằng công cụ tố tụng dân sự. Khi quan hệ lao động bị chấm dứt, sa thải trái với các trường hợp cấm đơn phương hoặc cấm kỷ luật sa thải, tòa án có thể tạm đình chỉ việc thi hành quyết định để tránh gây thiệt hại không thể khắc phục cho người lao động. Quy định này đồng thời giúp giữ nguyên trạng quan hệ lao động trong thời gian giải quyết vụ án, hạn chế việc người sử dụng lao động lợi dụng thủ tục để tạo sự đã rồi.
Cấu thành, điều kiện áp dụng Điều 119
Thứ nhất, phải có vụ án lao động đang được tòa án giải quyết, trong đó nội dung tranh chấp liên quan trực tiếp đến quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc sa thải. Nếu chưa khởi kiện hoặc vụ việc mới ở giai đoạn hòa giải, Điều 119 chưa được kích hoạt. Thứ hai, quyết định bị tranh chấp phải thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc không được xử lý kỷ luật sa thải theo các điều cấm cụ thể của Bộ luật Lao động (ví dụ khi người lao động đang mang thai, nghỉ ốm, nghỉ việc được phép…). Thứ ba, việc tạm đình chỉ chỉ liên quan đến thi hành quyết định, không làm mất hiệu lực nội dung quyết định; hiệu lực cuối cùng được xác định bởi bản án, quyết định của tòa án.
Những điểm trọng tâm cần nắm khi áp dụng
Trọng tâm của Điều 119 là sự gắn kết giữa pháp luật lao động (quy định các trường hợp cấm) và pháp luật tố tụng dân sự (quy định kỹ thuật bảo vệ tạm thời). Khi xem xét áp dụng, cần đối chiếu cụ thể quyết định chấm dứt, sa thải với các điều cấm tại Bộ luật Lao động và văn bản hướng dẫn, xác định rõ người sử dụng lao động đã vượt quá phạm vi quyền. Tòa án không tạm đình chỉ mọi quyết định chấm dứt, sa thải, mà chỉ khi có căn cứ vững chắc về việc quyết định rơi vào vùng cấm. Người lao động cần trình bày rõ các tình tiết thuộc trường hợp cấm để thuyết phục tòa án áp dụng.
Nhầm lẫn thường gặp trong thực tiễn
Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng chỉ cần có tranh chấp về sa thải hay chấm dứt hợp đồng thì tòa án đương nhiên tạm đình chỉ quyết định. Thực tế, Điều 119 đặt điều kiện gắn với trường hợp cấm, không phải mọi tranh chấp lao động. Nhầm lẫn thứ hai là coi tạm đình chỉ như sự hủy bỏ quyết định của người sử dụng lao động. Tạm đình chỉ chỉ dừng thi hành trong thời gian tố tụng, không kết luận đúng sai; kết quả phụ thuộc phán quyết cuối cùng. Nhầm lẫn thứ ba là cho rằng tòa án có thể tạm đình chỉ cả các quyết định kỷ luật khác (khiển trách, kéo dài lương…). Điều 119 chỉ nhắm đến hai loại quyết định: đơn phương chấm dứt hợp đồng và sa thải.
Lưu ý thực tiễn khi vận dụng Điều 119
Để đề nghị tòa án tạm đình chỉ theo Điều 119, người lao động nên chuẩn bị đầy đủ chứng cứ chứng minh mình thuộc nhóm được bảo vệ, như tài liệu y tế, thông báo mang thai, quyết định cử đi đào tạo, giấy tờ chứng minh đang nghỉ phép, nghỉ ốm… nhằm đối chiếu với các trường hợp cấm đơn phương chấm dứt, cấm sa thải trong pháp luật lao động. Người sử dụng lao động khi ban hành quyết định chấm dứt, sa thải cần rà soát kỹ các trường hợp cấm trước thời điểm ra quyết định, bởi nếu rơi vào trường hợp Điều 119, quyết định dễ bị tòa án tạm đình chỉ và phát sinh trách nhiệm bồi thường, nhận người lao động trở lại làm việc nếu bị tuyên trái pháp luật. Tòa án cần giải thích rõ cho các bên về bản chất tạm thời, không định đoạt của biện pháp tạm đình chỉ để tránh hiểu lầm về giá trị pháp lý của quyết định của mình.