Điều 118 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động
Bình luận Điều 118 Nghị định 12/2022 về buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, bảo hiểm, bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Điều 118. Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động
Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động được áp dụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động về tiền lương, tiền bảo hiểm, tiền bồi thường, tiền trợ cấp, chăm sóc sức khỏe theo quy định của pháp luật.
Mục đích và ý nghĩa của biện pháp buộc tạm ứng
Quy định buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, các khoản bảo hiểm và bồi thường, trợ cấp nhằm bảo đảm dòng tiền kịp thời cho người lao động khi họ đang ở trạng thái dễ tổn thương, đặc biệt trong trường hợp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Cơ chế này không chỉ mang tính bồi hoàn kinh tế mà còn thể hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, gắn với nghĩa vụ chăm sóc sức khỏe và an sinh tối thiểu cho người lao động. Đây là biện pháp khắc phục hậu quả mang tính bắt buộc, song hành với các hình thức xử phạt hành chính khác trong lĩnh vực lao động.
Các khoản phải tạm ứng và phạm vi áp dụng
Điều 118 tập trung vào các khoản có tính chất sống còn đối với người lao động: tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, cùng với tiền bồi thường, trợ cấp tương ứng. Đây đều là các nghĩa vụ đã được thiết lập trong Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật An toàn, vệ sinh lao động và các văn bản hướng dẫn. Việc buộc tạm ứng được áp dụng khi người sử dụng lao động vi phạm nghĩa vụ chi trả hoặc chậm thực hiện, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người lao động.
Điều kiện để áp dụng biện pháp buộc tạm ứng
Biện pháp này không tự động phát sinh mà gắn với một hành vi vi phạm cụ thể của người sử dụng lao động, đã được xác định qua hoạt động thanh tra, kiểm tra hoặc xử phạt vi phạm hành chính. Thông thường, cần xác định rõ: (i) có quan hệ lao động, (ii) phát sinh nghĩa vụ trả lương, đóng bảo hiểm, bồi thường, trợ cấp theo quy định pháp luật, (iii) người sử dụng lao động không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thời hạn, không đầy đủ. Khi các yếu tố này được chứng minh, cơ quan có thẩm quyền mới áp dụng biện pháp buộc tạm ứng như một phần quyết định xử phạt hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
Những nhầm lẫn thường gặp
Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng tạm ứng chỉ là sự thỏa thuận thiện chí giữa doanh nghiệp và người lao động, nên doanh nghiệp có quyền từ chối. Tuy nhiên, trong bối cảnh Điều 118, tạm ứng là biện pháp cưỡng chế hành chính được áp dụng khi doanh nghiệp vi phạm. Hai là, một số doanh nghiệp hiểu nhầm đây chỉ là việc hỗ trợ tạm thời, không làm phát sinh nghĩa vụ chi trả đầy đủ sau này. Thực tế, tạm ứng là một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ chi trả mà người sử dụng lao động phải thực hiện; việc đã tạm ứng không làm giảm nghĩa vụ còn lại nếu pháp luật hoặc hợp đồng quy định mức chi trả cao hơn.
Lưu ý khi áp dụng trong thực tiễn
Khi giải quyết tranh chấp hoặc xử lý vi phạm, cần làm rõ mối liên hệ giữa biện pháp tạm ứng và nghĩa vụ gốc (trả lương, đóng bảo hiểm, bồi thường, trợ cấp) để tránh việc doanh nghiệp lợi dụng tạm ứng tối thiểu rồi trì hoãn phần còn lại. Cơ quan có thẩm quyền nên xác định rõ số tiền, loại khoản phải tạm ứng, thời điểm tạm ứng và trách nhiệm tiếp tục thanh toán cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ. Về phía người lao động, cần lưu giữ hồ sơ tai nạn lao động, giấy ra viện, chứng từ thanh toán chi phí y tế, quyết định hưởng bảo hiểm… để chứng minh quyền được tạm ứng và làm căn cứ đối chiếu khi quyết toán sau cùng.