Điều 73 Bộ luật lao động 2019: Thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thông qua Hội đồng thương lượng tập thể

Bình luận Điều 73 Bộ luật Lao động 2019 về Hội đồng thương lượng tập thể: điều kiện áp dụng, thành phần, vai trò và lưu ý thực tiễn.

Điều 73. Thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thông qua Hội đồng thương lượng tập thể

1. Trên cơ sở đồng thuận, các bên thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia có thể yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của các doanh nghiệp tham gia thương lượng hoặc nơi do các bên lựa chọn trong trường hợp các doanh nghiệp tham gia thương lượng có trụ sở chính tại nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập Hội đồng thương lượng tập thể để tiến hành thương lượng tập thể.

2. Khi nhận được yêu cầu của các bên thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Hội đồng thương lượng tập thể để tổ chức việc thương lượng tập thể. Thành phần Hội đồng thương lượng tập thể bao gồm:

a) Chủ tịch Hội đồng do các bên quyết định và có trách nhiệm điều phối hoạt động của Hội đồng thương lượng tập thể, hỗ trợ cho việc thương lượng tập thể của các bên;

b) Đại diện các bên thương lượng tập thể do mỗi bên cử. Số lượng đại diện mỗi bên thương lượng tham gia Hội đồng do các bên thỏa thuận;

c) Đại diện Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

3. Hội đồng thương lượng tập thể tiến hành thương lượng theo yêu cầu của các bên và tự chấm dứt hoạt động khi thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia được ký kết hoặc theo thỏa thuận của các bên.

4. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của Hội đồng thương lượng tập thể.

Ý nghĩa điều chỉnh

Điều 73 hướng tới xử lý tình huống quan hệ lao động không còn bó hẹp trong phạm vi một doanh nghiệp mà mở rộng sang nhiều doanh nghiệp cùng tham gia thương lượng. Nhà làm luật thiết kế Hội đồng thương lượng tập thể như một cơ chế hỗ trợ tổ chức, điều phối và bảo đảm đối thoại diễn ra có trật tự. Trọng tâm của điều luật không nằm ở việc “thay thế” các bên, mà ở việc tạo khuôn khổ để các bên tự thương lượng hiệu quả hơn.

Quy định này đặc biệt hữu ích trong những lĩnh vực có mặt bằng điều kiện lao động tương đồng giữa nhiều doanh nghiệp. Khi các bên cùng ngồi vào một tiến trình chung, nguy cơ đứt gãy thương lượng, chênh lệch yêu cầu và áp lực cạnh tranh không lành mạnh giữa doanh nghiệp được giảm đáng kể. Đây là cách tiếp cận thiên về đối thoại tập thể, phù hợp bản chất của pháp luật lao động hiện đại.

Điều kiện để áp dụng

Điều kiện khởi động cơ chế này là có sự đồng thuận của các bên thương lượng tập thể. Không có yêu cầu chung của cả hai phía thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không đương nhiên thành lập Hội đồng. Đồng thuận ở đây phải hiểu là thống nhất về việc sử dụng cơ chế Hội đồng và về địa điểm, phạm vi tổ chức thương lượng theo quy định của Điều luật.

Thẩm quyền tiếp nhận yêu cầu thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của các doanh nghiệp tham gia thương lượng. Trường hợp các doanh nghiệp có trụ sở chính tại nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì các bên được quyền lựa chọn địa điểm phù hợp. Vì vậy, bước xác định đúng địa bàn có ý nghĩa trực tiếp đối với tính hợp lệ của việc thành lập Hội đồng.

Cấu phần then chốt của Hội đồng

Hội đồng thương lượng tập thể không phải là một cơ quan quản lý độc lập, mà là thiết chế phục vụ thương lượng. Thành phần của Hội đồng gồm chủ tịch do các bên quyết định, đại diện các bên thương lượng và đại diện Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Cách thiết kế này cho thấy Hội đồng phải bảo đảm tính trung gian, cân bằng và không thiên lệch về một phía.

Vai trò của chủ tịch Hội đồng là điều phối hoạt động và hỗ trợ quá trình thương lượng, chứ không thay mặt các bên quyết định nội dung thỏa ước. Đại diện Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tham gia nhằm bảo đảm tính tổ chức, hỗ trợ thủ tục và theo dõi tiến trình. Số lượng đại diện của mỗi bên do các bên thỏa thuận, qua đó bảo đảm tính linh hoạt của thương lượng tập thể nhiều doanh nghiệp.

Những điểm dễ hiểu sai

Hiểu sai phổ biến là coi Hội đồng thương lượng tập thể như một “cấp trung gian bắt buộc” có quyền áp đặt kết quả. Thực tế, Hội đồng chỉ tồn tại để tổ chức thương lượng và tự chấm dứt khi thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia được ký kết hoặc theo thỏa thuận của các bên. Vì vậy, bản chất của cơ chế này vẫn là thương lượng tự nguyện, không phải giải quyết tranh chấp bắt buộc.

Một nhầm lẫn khác là cho rằng chỉ cần có nhiều doanh nghiệp cùng ngành là tự động áp dụng Điều 73. Điều luật không dựa trên tiêu chí ngành nghề đơn thuần mà dựa trên việc các bên thực sự thống nhất tiến hành thương lượng tập thể nhiều doanh nghiệp. Nếu không có yêu cầu chung và không có sự đồng thuận về việc thành lập Hội đồng thì điều luật không vận hành.

Lưu ý khi áp dụng

Khi áp dụng Điều 73, cần chuẩn bị rõ phạm vi doanh nghiệp tham gia, nội dung thương lượng và cơ chế đại diện của mỗi bên. Việc xác định đại diện không rõ ràng thường dẫn đến tranh chấp về tính hợp lệ của quá trình thương lượng. Do đó, hồ sơ đề nghị và biên bản thống nhất nên thể hiện đầy đủ thỏa thuận của các bên ngay từ đầu.

Điều luật này chỉ phát huy hiệu quả khi các bên có thiện chí thương lượng và chấp nhận cơ chế phối hợp chung. Nếu mục tiêu của một bên chỉ là kéo dài quá trình hoặc dùng Hội đồng như công cụ hình thức, cơ chế sẽ mất ý nghĩa thực tiễn. Trong thực hành, cần coi đây là thiết chế hỗ trợ đối thoại tập thể, không phải thủ tục hành chính hóa quan hệ lao động.

Trọng tâm cần nhớ

  • Chỉ áp dụng khi các bên có đồng thuận.
  • UBND cấp tỉnh là chủ thể quyết định thành lập Hội đồng sau khi nhận yêu cầu hợp lệ.
  • Hội đồng có vai trò tổ chức, điều phối, không thay thế quyền thương lượng của các bên.
  • Hội đồng chấm dứt khi ký được thỏa ước hoặc theo thỏa thuận của các bên.
Điều 73 có bắt buộc thành lập Hội đồng thương lượng tập thể không?
Không. Cơ chế này chỉ được kích hoạt khi các bên có đồng thuận và có yêu cầu thành lập Hội đồng theo đúng thẩm quyền.
Ai có thẩm quyền thành lập Hội đồng thương lượng tập thể?
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định thành lập khi nhận được yêu cầu hợp lệ của các bên thương lượng tập thể nhiều doanh nghiệp.
Hội đồng có quyền quyết định nội dung thỏa ước không?
Không. Hội đồng chỉ tổ chức, điều phối và hỗ trợ thương lượng; nội dung thỏa ước do các bên tự thỏa thuận.
Nếu doanh nghiệp ở nhiều tỉnh thì nộp yêu cầu ở đâu?
Các bên chọn nơi phù hợp để yêu cầu thành lập Hội đồng, theo quy định đối với trường hợp doanh nghiệp có trụ sở tại nhiều tỉnh, thành phố.
Khi nào Hội đồng chấm dứt hoạt động?
Hội đồng tự chấm dứt khi thỏa ước lao động tập thể nhiều doanh nghiệp được ký kết hoặc khi các bên có thỏa thuận chấm dứt.
Mục lục văn bản