Xử lý đất ô nhiễm: trách nhiệm và phục hồi

Phân định trách nhiệm pháp lý và phương án phục hồi đất bị ô nhiễm theo Luật Đất đai 2024 và Luật Bảo vệ môi trường 2020.

Tổng quan

Ô nhiễm đất đang đặt ra đồng thời ba yêu cầu pháp lý: xác định đúng chủ thể gây ô nhiễm, lựa chọn cơ chế xử lý tương ứng và tổ chức phục hồi môi trường đất theo quy chuẩn. Khung pháp luật hiện hành đã phân định rõ trách nhiệm của người gây ô nhiễm, trách nhiệm của Nhà nước trong các trường hợp lịch sử để lại hoặc không xác định được nguồn gây ô nhiễm, và cơ chế điều tra, khoanh vùng, cải tạo, phục hồi đất. Trên nền tảng đó, việc xử lý đất bị ô nhiễm không chỉ là hoạt động kỹ thuật mà còn là quá trình áp dụng trách nhiệm pháp lý, bồi thường thiệt hại và giám sát việc khôi phục môi trường. Bài viết tập trung vào căn cứ pháp lý hiện hành, cách xác định trách nhiệm và các phương án phục hồi phù hợp.

Cơ sở pháp lý và cách tiếp cận đối với đất bị ô nhiễm

Pháp luật hiện hành xác định bảo vệ, cải tạo, phục hồi đất là việc áp dụng các biện pháp quản lý, kỹ thuật, cơ giới, sinh học, hữu cơ tác động vào đất để xử lý đất bị ô nhiễm, phục hồi đất bị thoái hóa theo khoản 4 Điều 3 Luật Đất đai 2024. Cùng với đó, Luật Bảo vệ môi trường 2020 đặt ra nghĩa vụ điều tra, đánh giá, phân loại khu vực ô nhiễm môi trường đất, xác định nguyên nhân, phạm vi và mức độ ô nhiễm để làm căn cứ cho việc xử lý, cải tạo và phục hồi. Cách tiếp cận này cho thấy ô nhiễm đất không được xử lý bằng một biện pháp duy nhất, mà phải dựa trên kết quả nhận diện nguồn ô nhiễm, tính chất ô nhiễm và mục đích sử dụng đất sau phục hồi.

Về mặt quản trị công, việc xử lý đất ô nhiễm gắn với trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong điều tra, công bố, khoanh vùng và tổ chức phục hồi các khu vực ô nhiễm trên địa bàn. Đối với khu vực đất bị ô nhiễm do lịch sử để lại hoặc không xác định được tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm, Nhà nước có trách nhiệm xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường đất theo Luật Bảo vệ môi trường 2020. Đây là điểm phân định trung tâm giữa trách nhiệm của chủ thể gây ô nhiễm và trách nhiệm công trong trường hợp không truy được nguồn gây ô nhiễm.

Xác định trách nhiệm pháp lý đối với khu vực đất ô nhiễm

Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm

Cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất có trách nhiệm bảo vệ môi trường đất; xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường đất đối với khu vực ô nhiễm môi trường đất do mình gây ra theo khoản 2 Điều 15 Luật Bảo vệ môi trường 2020. Quy định này đặt nghĩa vụ trực tiếp lên chủ thể gây ô nhiễm, không phụ thuộc vào việc họ còn đang quản lý hay đã chấm dứt hoạt động sử dụng đất. Khi hành vi gây ô nhiễm làm phát sinh thiệt hại, chủ thể vi phạm còn phải khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường và bồi thường thiệt hại theo khoản 1 Điều 142 Luật Bảo vệ môi trường 2020.

Nghĩa vụ phục hồi không dừng ở việc ngăn chặn ô nhiễm tiếp diễn, mà bao gồm cả việc đưa môi trường đất trở về trạng thái đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật môi trường và yêu cầu sử dụng đất tương ứng. Trong thực tiễn, điều này thường kéo theo trách nhiệm lập phương án xử lý, tổ chức thi công, quan trắc hậu xử lý và chi trả toàn bộ chi phí liên quan. Nếu có nhiều chủ thể cùng tham gia gây ô nhiễm, trách nhiệm được xem xét theo mức độ đóng góp vào thiệt hại và quan hệ nhân quả giữa hành vi với hậu quả môi trường.

Trách nhiệm của Nhà nước trong trường hợp đặc biệt

Đối với khu vực ô nhiễm môi trường đất do lịch sử để lại hoặc không xác định được tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm, Luật Bảo vệ môi trường 2020 xác lập trách nhiệm của Nhà nước trong việc tổ chức xử lý, cải tạo và phục hồi. Cách phân bổ này bảo đảm không để khoảng trống pháp lý đối với các khu vực ô nhiễm tồn lưu, nhất là đất công nghiệp cũ, bãi thải cũ hoặc khu đất đã đổi chủ nhiều lần. Trong trường hợp này, việc phục hồi thường được ưu tiên theo mức độ rủi ro đối với sức khỏe con người, nguồn nước, nông nghiệp và khu dân cư.

Ở cấp địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức thực hiện, phê duyệt, công bố kết quả điều tra, đánh giá đất đai; xây dựng và thực hiện kế hoạch bảo vệ, cải tạo, phục hồi đất đối với khu vực đất bị thoái hóa, ô nhiễm trên địa bàn theo Luật Đất đai 2024. Trách nhiệm này bao gồm cả việc thống kê khu vực ô nhiễm và tổ chức lựa chọn nhà thầu xử lý, cải tạo, phục hồi đất khi cần thiết. Với mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ 01/07/2025, đầu mối thực hiện tại cơ sở tập trung vào cấp xã/phường/đặc khu theo phân cấp quản lý hiện hành, còn cấp tỉnh giữ vai trò tổ chức và điều phối chung.

Cơ chế điều tra, khoanh vùng và đánh giá mức độ ô nhiễm

Điều tra và đánh giá là bước mở đầu bắt buộc trước khi lựa chọn phương án phục hồi. Theo Luật Bảo vệ môi trường 2020, nội dung điều tra bao gồm xác định vị trí, diện tích, nguồn gây ô nhiễm, mức độ ô nhiễm, phạm vi lan truyền và nguy cơ tác động đến con người, hệ sinh thái và nguồn nước. Kết quả điều tra phải làm rõ khu vực cần xử lý khẩn cấp, khu vực có thể giám sát dài hạn và khu vực đủ điều kiện phục hồi theo từng giai đoạn.

Khoanh vùng ô nhiễm là cơ sở để quyết định biện pháp can thiệp phù hợp, tránh xử lý tràn lan gây lãng phí và làm phát tán chất ô nhiễm. Ở giai đoạn này, cơ quan chuyên môn thường phải kết hợp lấy mẫu đất, phân tích chỉ tiêu hóa học, xác định độ sâu lan truyền ô nhiễm và đánh giá rủi ro phơi nhiễm. Trên phương diện pháp lý, đây là dữ liệu nền để xác định trách nhiệm, ấn định chi phí khắc phục và làm căn cứ bồi thường thiệt hại môi trường.

Phương án phục hồi đất ô nhiễm

Phương án phục hồi phải tương ứng với loại ô nhiễm, mức độ ô nhiễm và mục đích sử dụng đất sau xử lý. Đối với ô nhiễm hữu cơ hoặc vi sinh, biện pháp sinh học, xử lý hiếu khí, kỵ khí hoặc cô lập nguồn ô nhiễm thường được ưu tiên. Đối với ô nhiễm kim loại nặng hay hóa chất độc hại tồn lưu, biện pháp đào xúc, thay thế đất, cố định chất ô nhiễm, rửa đất hoặc cô lập dài hạn thường được áp dụng.

Luật Đất đai 2024 xác định rõ bảo vệ, cải tạo và phục hồi đất là tổ hợp các biện pháp quản lý, kỹ thuật, cơ giới, sinh học, hữu cơ nhằm xử lý đất bị ô nhiễm và phục hồi đất bị thoái hóa. Do đó, phương án phục hồi không chỉ hướng đến làm sạch đất mà còn phải bảo đảm tính ổn định lâu dài của môi trường đất sau phục hồi. Sau xử lý, khu vực đất phải được quan trắc, kiểm chứng và cập nhật dữ liệu vào hệ thống quản lý đất đai để phục vụ quản lý tiếp theo.

Ưu tiên theo mức độ rủi ro và mục đích sử dụng

Về nguyên tắc quản lý, khu vực ô nhiễm nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng phải được ưu tiên xử lý trước. Tại các khu vực có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng, trường học, bệnh viện, khu dân cư hoặc nguồn nước sinh hoạt, phương án phục hồi phải kết hợp kiểm soát khẩn cấp và xử lý triệt để nguồn ô nhiễm. Với đất nông nghiệp, yêu cầu trọng tâm là bảo đảm an toàn chuỗi thực phẩm và ngăn tích lũy chất ô nhiễm trong cây trồng.

Với khu đất dự kiến chuyển mục đích sang đất ở, đất thương mại hoặc đất công trình công cộng, tiêu chuẩn phục hồi thường khắt khe hơn vì liên quan trực tiếp đến an toàn con người và giá trị sử dụng đất. Trường hợp đất không thể phục hồi ngay về trạng thái ban đầu, pháp luật cho phép áp dụng giải pháp quản lý rủi ro, cô lập, hạn chế sử dụng hoặc chuyển đổi chức năng sử dụng đất theo điều kiện an toàn. Đây là hướng tiếp cận thực dụng, bảo đảm vừa bảo vệ môi trường vừa không làm đình trệ hoàn toàn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Bồi thường thiệt hại và chi phí khắc phục

Tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường và gây thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường, bồi thường thiệt hại theo khoản 1 Điều 142 Luật Bảo vệ môi trường 2020. Nghĩa vụ bồi thường bao gồm cả chi phí xác định thiệt hại, chi phí khắc phục và phục hồi, cùng các khoản thiệt hại khác theo quy định pháp luật có liên quan. Trong tranh chấp, yêu cầu bồi thường thường gắn với chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xả thải và hậu quả đối với khu đất bị ô nhiễm.

Về nguyên tắc xác định thiệt hại môi trường, pháp luật lấy chi phí khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường tại nơi xảy ra ô nhiễm để đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường làm căn cứ trung tâm. Điều này giúp chuyển trọng tâm từ tranh luận trừu tượng về mức độ lỗi sang cách tính chi phí thực tế để phục hồi trạng thái môi trường cần đạt. Nếu Nhà nước hoặc cơ quan có thẩm quyền phải ứng trước kinh phí xử lý trong trường hợp đặc biệt, nghĩa vụ hoàn trả và bồi thường của chủ thể gây ô nhiễm vẫn được đặt ra theo cơ chế pháp luật về môi trường.

Kết luận

Xử lý đất bị ô nhiễm là một chuỗi nhiệm vụ pháp lý gồm điều tra, xác định nguồn gây ô nhiễm, phân định trách nhiệm, lập phương án phục hồi và tổ chức bồi thường thiệt hại. Khung pháp luật hiện hành đã thiết lập ranh giới khá rõ giữa trách nhiệm của người gây ô nhiễm và trách nhiệm của Nhà nước đối với tồn lưu lịch sử hoặc trường hợp không xác định được chủ thể vi phạm. Từ góc độ áp dụng pháp luật, hiệu quả xử lý chỉ đạt được khi kết quả kỹ thuật, cơ chế trách nhiệm và nguồn lực tài chính được triển khai đồng bộ.

Tài liệu tham khảo

  • Luật Đất đai 2024, số 31/2024/QH15.
  • Luật Bảo vệ môi trường 2020, số 72/2020/QH14.
  • Nghị định của Chính phủ về xác định thiệt hại đối với môi trường.
  • Văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2024 và Luật Bảo vệ môi trường 2020.
  • Các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng môi trường đất.

Câu hỏi thường gặp

Ai phải chịu trách nhiệm xử lý đất bị ô nhiễm do hoạt động sản xuất gây ra?
Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm phải khắc phục, phục hồi môi trường và bồi thường thiệt hại theo khoản 1 Điều 142 Luật Bảo vệ môi trường 2020.
Nếu không xác định được người gây ô nhiễm thì ai xử lý?
Nhà nước tổ chức xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường đất đối với khu vực ô nhiễm do lịch sử để lại hoặc không xác định được chủ thể gây ô nhiễm.
Có phải điều tra trước khi phục hồi đất ô nhiễm không?
Có. Luật Bảo vệ môi trường 2020 yêu cầu điều tra, đánh giá, phân loại khu vực ô nhiễm, xác định nguyên nhân, phạm vi và mức độ ô nhiễm trước khi xử lý.
Phục hồi đất ô nhiễm có nhất thiết phải đưa về nguyên trạng ban đầu không?
Không nhất thiết. Mục tiêu là đưa đất đạt quy chuẩn môi trường và bảo đảm an toàn sử dụng theo mục đích đã xác định, tùy mức độ ô nhiễm và điều kiện kỹ thuật.