Vợ hoặc chồng tự ý vay tiền: ai phải trả nợ?

Phân định nợ chung, nợ riêng của vợ chồng khi một bên tự ý vay tiền theo Luật HNGĐ 2014.

Tổng quan

Trong quan hệ hôn nhân, nghĩa vụ trả nợ không mặc nhiên thuộc về cả hai vợ chồng chỉ vì một bên đứng tên vay. Việc xác định ai phải trả nợ phụ thuộc vào mục đích khoản vay, thời điểm xác lập nghĩa vụ và việc khoản vay có nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình hay không. Bài viết làm rõ tiêu chí phân định nợ chung, nợ riêng và hệ quả pháp lý khi một bên tự ý vay tiền mà bên kia không biết. Nội dung đồng thời chỉ ra căn cứ pháp lý hiện hành để áp dụng trong giải quyết tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình.

Vợ hoặc chồng tự ý vay tiền: không phải mọi khoản nợ đều là nợ chung

Trong đời sống hôn nhân, việc một bên tự ý vay tiền mà bên kia không biết thường dẫn đến tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán. Pháp luật không mặc nhiên coi mọi khoản vay do một người thực hiện trong thời kỳ hôn nhân là nghĩa vụ chung của vợ chồng. Việc xác định trách nhiệm trả nợ phải căn cứ vào bản chất giao dịch, mục đích sử dụng khoản vay và quy định về nghĩa vụ tài sản của vợ chồng.

Theo quy định hiện hành, vợ chồng có trách nhiệm liên đới đối với các nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, hoặc thuộc các trường hợp nghĩa vụ chung khác do luật định. Ngược lại, khoản vay phục vụ nhu cầu riêng, tiêu dùng cá nhân, đầu tư riêng hoặc không gắn với lợi ích gia đình thì về nguyên tắc là nghĩa vụ riêng của người vay. Cách hiểu này phản ánh đúng cấu trúc pháp lý của chế độ tài sản vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ pháp lý để phân định nợ chung và nợ riêng

Nợ chung của vợ chồng

Theo khoản 1 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, vợ chồng có nghĩa vụ chung đối với các nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do cả hai cùng xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà vợ chồng cùng phải chịu, và nghĩa vụ do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Theo khoản 2 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, vợ chồng còn phải chịu trách nhiệm liên đới đối với các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này.

Khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 xác định nhu cầu thiết yếu là các nhu cầu thường ngày cần thiết cho đời sống của mỗi người, mỗi gia đình như ăn, mặc, ở, học tập, khám chữa bệnh và các nhu cầu sinh hoạt thông thường khác. Vì vậy, nếu khoản vay được dùng để chi trả tiền nhà, tiền chữa bệnh, học phí, chi phí ăn ở của gia đình hoặc các khoản sinh hoạt bắt buộc khác thì đây là căn cứ quan trọng để xác định là nợ chung.

Điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định việc vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình được coi là có sự đồng ý của bên kia, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Quy định này củng cố thêm cơ sở để xác định trách nhiệm liên đới trong các khoản vay phục vụ sinh hoạt gia đình.

Nợ riêng của người tự ý vay

Theo khoản 1 Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, nghĩa vụ riêng của vợ, chồng bao gồm nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình, nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của mỗi bên, và các nghĩa vụ khác do luật quy định thuộc trách nhiệm riêng. Nếu người chồng hoặc người vợ vay tiền để đánh bạc, đầu tư cá nhân, mua sắm riêng, cho người khác vay lại, hoặc phục vụ mục đích ngoài đời sống chung của gia đình thì người đó phải tự chịu trách nhiệm trả nợ bằng tài sản riêng và phần tài sản của mình trong khối tài sản chung theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp giao dịch không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình và bên còn lại không biết, không đồng ý, không hưởng lợi, bên cho vay muốn yêu cầu cả hai cùng trả phải chứng minh được căn cứ pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ chung. Nếu không chứng minh được, nghĩa vụ thanh toán chỉ ràng buộc người trực tiếp vay. Đây là nguyên tắc quan trọng để ngăn việc suy diễn trách nhiệm liên đới đối với người không tham gia giao dịch.

Ai phải trả nợ trong từng trường hợp cụ thể?

Nếu khoản vay được sử dụng để mua thực phẩm, thanh toán viện phí, thuê nhà ở, đóng học phí cho con, sửa chữa chỗ ở chung hoặc các chi phí bắt buộc của gia đình thì cả vợ và chồng cùng phải trả nợ. Nghĩa vụ này phát sinh theo khoản 1 Điều 37 và khoản 2 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Việc một bên trực tiếp ký vay nhưng phục vụ sinh hoạt chung không làm mất đi tính chất nghĩa vụ chung.

Nếu khoản vay dùng cho mục đích cá nhân, phục vụ sở thích riêng, đầu tư riêng, kinh doanh riêng không có sự tham gia hoặc đồng ý của bên kia và không chứng minh được lợi ích gia đình, thì người vay phải tự trả. Khi đó, khoản nợ được xác định là nghĩa vụ riêng theo khoản 1 Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Bên còn lại không đương nhiên bị buộc thanh toán chỉ vì quan hệ hôn nhân còn tồn tại.

Nếu khoản vay được đứng tên một người nhưng thực tế dùng cho cả gia đình, tranh chấp sẽ tập trung vào chứng cứ. Hợp đồng vay, sao kê chuyển khoản, tin nhắn, lời khai, giấy nhận tiền, chứng từ chi tiêu, hoặc chứng cứ chứng minh mục đích sử dụng tiền đều có ý nghĩa quyết định. Trong tố tụng, bên yêu cầu xác định là nợ chung phải chứng minh khoản nợ đáp ứng điều kiện của Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Vợ chồng có phải chịu trách nhiệm liên đới với mọi khoản vay không?

Câu trả lời là không. Trách nhiệm liên đới chỉ phát sinh trong phạm vi pháp luật quy định, chủ yếu là nghĩa vụ chung của vợ chồng theo Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Nếu một bên tự ý vay vì mục đích cá nhân, không vì gia đình, thì việc buộc bên kia liên đới thanh toán là không có căn cứ.

Nguyên tắc này có ý nghĩa bảo vệ bên không tham gia giao dịch, đồng thời vẫn bảo đảm quyền của chủ nợ khi khoản vay phục vụ nhu cầu gia đình. Trong thực tiễn, tranh chấp thường phát sinh khi người vay sử dụng tiền vào mục đích không minh bạch hoặc trộn lẫn giữa chi tiêu chung và chi tiêu riêng. Vì vậy, việc lưu giữ chứng cứ và xác định mục đích khoản vay ngay từ đầu có vai trò rất lớn.

Chứng minh khoản nợ là chung hay riêng như thế nào?

Để xác định một khoản vay là nợ chung, cần chứng minh ít nhất một trong các yếu tố: cả hai vợ chồng cùng thỏa thuận; khoản vay phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình; khoản vay liên quan đến quản lý, sử dụng tài sản chung; hoặc thuộc trường hợp nghĩa vụ chung khác do luật quy định. Bên cho vay thường phải cung cấp hợp đồng vay, giấy nhận nợ, chứng từ giao tiền và tài liệu cho thấy mục đích sử dụng tiền.

Để xác định là nợ riêng, cần chứng minh khoản tiền được dùng cho nhu cầu cá nhân hoặc ngoài phạm vi lợi ích chung của gia đình. Các chứng cứ như lời khai về mục đích vay, giao dịch chi tiêu cá nhân, chứng minh việc bên kia không biết và không đồng ý, hoặc tài liệu thể hiện tiền vay không đi vào sinh hoạt chung sẽ có giá trị quan trọng. Trên thực tế, việc đánh giá chứng cứ phải đặt trong toàn bộ bối cảnh hôn nhân, tài sản và dòng tiền liên quan.

Hệ quả pháp lý khi ly hôn hoặc khi chủ nợ khởi kiện

Khi ly hôn, nghĩa vụ trả nợ vẫn được giải quyết theo tính chất chung hay riêng của khoản vay, chứ không tự động chấm dứt theo việc chấm dứt quan hệ hôn nhân. Nếu là nợ chung, cả hai vợ chồng phải cùng thực hiện nghĩa vụ hoặc phân chia trách nhiệm thanh toán theo bản án, quyết định của Tòa án. Nếu là nợ riêng, người vay tự chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng và phần tài sản của mình.

Khi chủ nợ khởi kiện, Tòa án sẽ xem xét mục đích giao dịch, thời điểm vay, nguồn sử dụng tiền và các chứng cứ kèm theo để xác định chủ thể có nghĩa vụ. Bên không ký vay vẫn có thể bị buộc liên đới nếu khoản vay thuộc trường hợp quy định tại Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Ngược lại, nếu không chứng minh được căn cứ xác lập nghĩa vụ chung, yêu cầu đòi nợ đối với người còn lại sẽ không được chấp nhận.

Kết luận

Vợ hoặc chồng tự ý vay tiền không làm phát sinh mặc nhiên nghĩa vụ trả nợ cho người còn lại. Chỉ khi khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, thuộc giao dịch chung, hoặc rơi vào trường hợp pháp luật quy định về nghĩa vụ chung thì mới phát sinh trách nhiệm liên đới của cả hai. Nếu khoản vay phục vụ mục đích riêng, người trực tiếp vay phải tự chịu trách nhiệm thanh toán theo khoản 1 Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Tài liệu tham khảo

  • Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
  • Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình.
  • Bộ luật Dân sự 2015.
  • Quy định về trách nhiệm liên đới của vợ chồng tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
  • Quy định về nghĩa vụ chung của vợ chồng tại Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
  • Quy định về nghĩa vụ riêng của vợ, chồng tại Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Câu hỏi thường gặp

Vợ hoặc chồng tự ý vay tiền để tiêu xài cá nhân thì ai trả nợ?
Người trực tiếp vay phải tự trả, vì đây là nghĩa vụ riêng theo khoản 1 Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, nếu không chứng minh được phục vụ nhu cầu gia đình.
Khoản vay để chữa bệnh cho con có phải nợ chung không?
Có. Nếu khoản vay dùng cho nhu cầu thiết yếu của gia đình, trách nhiệm trả nợ thuộc cả hai vợ chồng theo khoản 1 Điều 37 và khoản 2 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Người không ký giấy vay có bị kiện cùng không?
Có thể bị kiện cùng nếu khoản vay là nghĩa vụ chung của vợ chồng, đặc biệt khi dùng cho nhu cầu thiết yếu của gia đình hoặc thuộc giao dịch chung theo luật.
Ly hôn rồi có phải trả khoản nợ cũ không?
Có, nếu đó là nợ chung phát sinh trong hôn nhân. Ly hôn không làm mất nghĩa vụ thanh toán đã xác lập hợp pháp.
Chủ nợ phải chứng minh điều gì để đòi cả hai vợ chồng trả nợ?
Chủ nợ phải chứng minh khoản vay thuộc nghĩa vụ chung, nhất là mục đích sử dụng tiền gắn với nhu cầu thiết yếu của gia đình hoặc giao dịch chung.