Ly hôn khi vợ hoặc chồng ở nước ngoài không hợp tác ký đơn

Hướng dẫn ly hôn đơn phương khi vợ hoặc chồng ở nước ngoài không hợp tác, theo luật Việt Nam hiện hành.

Tổng quan

Trường hợp một bên vợ hoặc chồng đang ở nước ngoài nhưng không hợp tác ký đơn ly hôn, pháp luật Việt Nam vẫn cho phép giải quyết theo thủ tục ly hôn đơn phương nếu có căn cứ hợp lệ. Bài viết làm rõ thẩm quyền của Tòa án, điều kiện khởi kiện, cách tống đạt giấy tờ cho người ở nước ngoài và những vấn đề thường phát sinh về con chung, tài sản, hộ tịch. Nội dung tập trung vào khuôn khổ pháp lý hiện hành áp dụng trong năm 2026, giúp xác định đúng con đường tố tụng và giảm rủi ro hồ sơ bị trả lại hoặc kéo dài thời gian giải quyết.

Khung pháp lý điều chỉnh trường hợp vợ hoặc chồng ở nước ngoài không ký đơn

Trong trường hợp vợ hoặc chồng đang ở nước ngoài nhưng không hợp tác ký đơn, quan hệ ly hôn thường được xác định là ly hôn có yếu tố nước ngoài. Căn cứ trung tâm là điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, theo đó việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này. Khi cả hai bên đều là công dân Việt Nam nhưng một bên đang ở nước ngoài, vụ việc vẫn được giải quyết theo pháp luật Việt Nam nếu không thuộc trường hợp phải áp dụng pháp luật nước ngoài theo quy định của điều luật này.

Về tố tụng, điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định nhóm tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền của Tòa án Việt Nam, trong đó bao gồm vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài. Thẩm quyền theo cấp xét xử trong loại việc này thuộc về Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo các quy định về thẩm quyền của BLTTDS 2015. Do đó, khi người còn lại ở nước ngoài không ký đơn, không thể nộp hồ sơ thuận tình theo nghĩa đầy đủ, mà phải chuyển sang cơ chế khởi kiện ly hôn đơn phương nếu đáp ứng điều kiện luật định.

Không ký đơn không làm mất quyền yêu cầu ly hôn

Pháp luật không đặt điều kiện phải có chữ ký của cả hai bên mới được yêu cầu chấm dứt hôn nhân. Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 ghi nhận vợ, chồng hoặc cả hai người đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Vì vậy, việc một bên ở nước ngoài cố tình không ký đơn, không phản hồi hoặc né tránh tham gia tố tụng không làm mất quyền khởi kiện của người còn lại.

Trong thực tiễn, nếu không có sự đồng thuận của bên ở nước ngoài, Tòa án sẽ xem xét theo thủ tục ly hôn theo yêu cầu của một bên. Căn cứ giải quyết chính là Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, theo đó Tòa án cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Khi người ở nước ngoài cố tình không hợp tác, Tòa án vẫn thụ lý nếu hồ sơ chứng minh được tình trạng hôn nhân đã đổ vỡ theo tiêu chuẩn này.

Thẩm quyền giải quyết và nơi nộp hồ sơ

Với vụ việc có yếu tố nước ngoài, người yêu cầu nộp hồ sơ tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền theo lãnh thổ, thường được xác định theo nơi cư trú, làm việc, nơi đặt trụ sở hoặc nơi có tài sản của bị đơn tại Việt Nam, tùy từng tình huống cụ thể và quy tắc tống đạt. Nếu bị đơn ở nước ngoài, việc xác định thẩm quyền thường dựa vào nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam, nơi có tài sản tại Việt Nam hoặc các căn cứ tố tụng liên quan được BLTTDS 2015 quy định cho vụ việc có yếu tố nước ngoài.

Trường hợp cả hai bên đều ở nước ngoài nhưng có yêu cầu giải quyết tại Việt Nam, Tòa án vẫn xem xét nếu thuộc thẩm quyền quốc tế của Tòa án Việt Nam theo Điều 469 BLTTDS 2015. Khi hồ sơ có liên quan đến con chung hoặc tài sản ở nước ngoài, Tòa án Việt Nam chỉ giải quyết trong phạm vi pháp luật cho phép; riêng bất động sản ở nước ngoài thì áp dụng pháp luật nơi có bất động sản theo khoản 3 Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Hồ sơ cần chuẩn bị khi bên kia ở nước ngoài không hợp tác

Hồ sơ ly hôn đơn phương thường gồm đơn khởi kiện, bản chính giấy chứng nhận kết hôn hoặc bản trích lục hợp lệ, bản sao giấy tờ tùy thân của người khởi kiện, giấy tờ chứng minh nơi cư trú của hai bên, giấy khai sinh của con, tài liệu về tài sản chung và chứng cứ về tình trạng hôn nhân trầm trọng. Khi một bên ở nước ngoài, tài liệu chứng minh địa chỉ cư trú ở nước ngoài, lịch sử liên hệ, thư từ, email, xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc tài liệu chứng minh việc không thể lấy ý kiến hợp tác có ý nghĩa quan trọng.

Nếu giấy tờ do cơ quan nước ngoài cấp, thường phải được hợp pháp hóa lãnh sự, dịch sang tiếng Việt và chứng thực theo quy định về giấy tờ sử dụng trong tố tụng tại Việt Nam. Đây là khâu dễ gây kéo dài thời gian giải quyết nhất, vì Tòa án chỉ thụ lý khi hồ sơ đủ căn cứ để xác định quan hệ hôn nhân, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết.

Trình tự giải quyết khi bị đơn ở nước ngoài không phản hồi

Sau khi nhận đơn hợp lệ, Tòa án tiến hành thụ lý, yêu cầu sửa đổi bổ sung nếu cần, sau đó thực hiện các hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ và tống đạt văn bản tố tụng cho người ở nước ngoài. Nếu bị đơn không về Việt Nam, không nhận hoặc không ký các giấy tờ, Tòa án vẫn có thể tiến hành theo cơ chế niêm yết, ủy thác tư pháp hoặc các phương thức tống đạt khác phù hợp với BLTTDS 2015 và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Khi bị đơn đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt, Tòa án có quyền xét xử vắng mặt trong phạm vi luật cho phép. Trong vụ án ly hôn, việc bên ở nước ngoài không hợp tác không làm đình chỉ vụ án nếu Tòa án đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tống đạt và bảo đảm quyền tham gia tố tụng của họ theo quy định. Từ góc độ thực tiễn, thời gian giải quyết thường kéo dài hơn vụ án trong nước vì phụ thuộc vào việc tống đạt quốc tế và xác minh địa chỉ cư trú.

Giải quyết con chung, cấp dưỡng và tài sản khi một bên ở nước ngoài

Khi giải quyết ly hôn, Tòa án đồng thời xem xét quyền lợi của con chung theo Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Việc giao con cho ai trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; người không trực tiếp nuôi có nghĩa vụ cấp dưỡng và có quyền thăm nom con theo quy định của luật. Nếu một bên ở nước ngoài, Tòa án vẫn xác định nghĩa vụ cấp dưỡng và cách thực hiện, kể cả khi việc thi hành án sau này phải gắn với yếu tố quốc tế.

Đối với tài sản chung, Tòa án áp dụng nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn theo Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Nếu tài sản ở Việt Nam, Tòa án có thể giải quyết trong bản án ly hôn. Nếu tài sản là bất động sản ở nước ngoài, áp dụng quy định riêng của khoản 3 Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, tức là phải theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó; vì vậy, yêu cầu chia tài sản ở nước ngoài cần được đánh giá tách biệt về thẩm quyền và khả năng công nhận, thi hành.

Những sai lầm thường gặp

Một sai lầm phổ biến là cho rằng chỉ cần bên kia không ký đơn thì không thể ly hôn. Thực tế, điều kiện quyết định không phải là chữ ký, mà là căn cứ pháp lý để Tòa án xác định hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Sai lầm thứ hai là nộp hồ sơ thuận tình trong khi bên ở nước ngoài không xác nhận ý chí, dẫn đến hồ sơ bị yêu cầu sửa đổi hoặc chuyển sang vụ án ly hôn đơn phương.

Một sai lầm khác là không chuẩn bị địa chỉ cư trú rõ ràng của bị đơn ở nước ngoài. Nếu không xác định được nơi cư trú hoặc liên hệ cuối cùng, việc tống đạt sẽ rất khó khăn và kéo dài thời gian giải quyết. Ngoài ra, nhiều trường hợp không dự liệu trước vấn đề hợp pháp hóa lãnh sự, dịch thuật và chứng thực bản sao, khiến hồ sơ bị trả lại ngay từ giai đoạn tiếp nhận.

Kết luận

Khi vợ hoặc chồng đang ở nước ngoài nhưng không hợp tác ký đơn, con đường pháp lý phù hợp là khởi kiện ly hôn đơn phương tại Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam, thay vì chờ sự đồng ý của bên còn lại. Căn cứ cốt lõi là khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và các quy định về thẩm quyền, tống đạt, xét xử vắng mặt trong BLTTDS 2015. Để hồ sơ được giải quyết thuận lợi, cần chuẩn bị đầy đủ chứng cứ về hôn nhân đổ vỡ, địa chỉ của người ở nước ngoài, con chung và tài sản liên quan.

Tài liệu tham khảo

  • Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, đặc biệt Điều 51, Điều 56, Điều 59, Điều 81-83, Điều 127.
  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đặc biệt Điều 469 và các quy định về thẩm quyền, tống đạt, xét xử vắng mặt.
  • Nghị định 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình.
  • Nghị định 123/2015/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch.
  • Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định tố tụng dân sự liên quan đến ly hôn có yếu tố nước ngoài.

Câu hỏi thường gặp

Vợ hoặc chồng ở nước ngoài không ký đơn thì có ly hôn được không?
Được. Người còn lại có quyền khởi kiện ly hôn đơn phương nếu có căn cứ theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Tòa án vẫn giải quyết dù bên kia không ký.
Nộp đơn ly hôn ở đâu khi chồng hoặc vợ đang ở nước ngoài?
Thường nộp tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền theo lãnh thổ, căn cứ BLTTDS 2015 về vụ việc có yếu tố nước ngoài và nơi cư trú hoặc tài sản liên quan tại Việt Nam.
Người ở nước ngoài không về Việt Nam thì Tòa có xử được không?
Có. Nếu đã tống đạt hợp lệ mà vẫn vắng mặt, Tòa án có thể giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự về xét xử vắng mặt và ủy thác tư pháp khi cần.
Ly hôn có yếu tố nước ngoài có chia được tài sản ở nước ngoài không?
Tòa án Việt Nam chỉ giải quyết theo phạm vi thẩm quyền và pháp luật áp dụng tương ứng; riêng bất động sản ở nước ngoài tuân theo pháp luật nơi có bất động sản theo khoản 3 Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Hồ sơ ly hôn đơn phương với người ở nước ngoài cần giấy tờ gì?
Cần đơn khởi kiện, giấy chứng nhận kết hôn, giấy tờ tùy thân, tài liệu cư trú, giấy khai sinh con, chứng cứ về hôn nhân trầm trọng và giấy tờ về tài sản nếu có.