Trực đêm tại công ty nhưng không làm việc liên tục: cách tính lương

Phân tích căn cứ pháp lý và cách tính lương khi trực đêm nhưng không làm việc liên tục theo Bộ luật Lao động 2019.

Tổng quan

Chế độ tiền lương đối với người lao động trực đêm nhưng không làm việc liên tục được xác định chủ yếu theo thời gian thực tế làm việc trong khung giờ ban đêm và thời gian làm thêm giờ nếu có. Việc nghỉ xen kẽ, chờ việc hoặc trực nhưng không phát sinh thao tác công việc không làm mất quyền hưởng lương đối với thời gian làm việc thực tế, nhưng không phải mọi thời gian có mặt tại công ty đều mặc nhiên được tính là thời giờ làm việc. Khi xây dựng và áp dụng cách trả lương, doanh nghiệp phải đối chiếu đúng quy định về giờ làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương giờ và các trường hợp làm việc theo ca, trực. Bài viết làm rõ căn cứ pháp lý hiện hành và phương pháp xác định tiền lương trong các tình huống trực đêm phổ biến.

Cơ sở pháp lý điều chỉnh tiền lương khi trực đêm

Chế độ trả lương đối với người lao động trực đêm được xác định trước hết theo Điều 98 Bộ luật Lao động 2019 về tiền lương làm việc vào ban đêm và làm thêm giờ. Theo đó, người lao động làm việc vào ban đêm được trả thêm ít nhất 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường. Nếu làm thêm giờ vào ban đêm, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường, ngày nghỉ hằng tuần hoặc ngày nghỉ lễ, tết.

Khung giờ ban đêm được xác định từ 22 giờ đến 06 giờ sáng hôm sau theo quy định của Bộ luật Lao động 2019. Bên cạnh đó, điểm a khoản 1 Điều 55 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định tiền lương giờ dùng làm căn cứ tính trả tiền lương làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ được xác định bằng tiền lương của một tháng chia cho số giờ làm việc tiêu chuẩn trong một tháng. Đây là căn cứ kỹ thuật quan trọng để chuyển đổi từ lương tháng sang lương giờ khi tính lương trực đêm.

Nguyên tắc xác định “trực đêm nhưng không làm việc liên tục”

Trực đêm tại công ty không đồng nghĩa toàn bộ thời gian có mặt đều là thời giờ làm việc được trả lương như nhau. Cần tách bạch giữa thời gian người lao động thực sự thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động và thời gian chờ đợi, nghỉ ngơi hoặc không phát sinh nhiệm vụ. Nếu trong khoảng trực có những thời điểm người lao động phải sẵn sàng xử lý công việc nhưng thực tế không liên tục làm việc, thì phần thời gian thực hiện công việc vẫn được tính lương theo quy định, còn cách xử lý thời gian chờ phụ thuộc vào thỏa thuận lao động, nội quy và cơ chế chấm công áp dụng hợp pháp.

Trong thực tiễn, nếu người lao động được bố trí trực ca, trực đêm hoặc đứng chốt và phải ở lại nơi làm việc, doanh nghiệp không được tùy tiện coi toàn bộ thời gian là “không làm việc” để loại trừ tiền lương. Ngược lại, cũng không phải mọi khoảng có mặt tại công ty đều tự động tính như thời giờ làm việc liên tục nếu người lao động chỉ ở trạng thái sẵn sàng mà không phát sinh nhiệm vụ và cơ chế trả lương đã được thỏa thuận riêng phù hợp pháp luật. Vì vậy, câu hỏi mấu chốt là: thời gian đó có phải thời giờ làm việc thực tế hay có làm thêm giờ vào ban đêm hay không.

Cách tính lương khi trực đêm không làm việc liên tục

1. Trực đêm trong giờ ban đêm, không phát sinh làm thêm giờ

Nếu người lao động làm việc trong khoảng từ 22 giờ đến 06 giờ hôm sau và tổng thời gian làm việc không vượt quá thời giờ làm việc bình thường, tiền lương tối thiểu cho phần giờ đó phải gồm: tiền lương của giờ làm việc bình thường và khoản trả thêm ít nhất 30% cho giờ làm việc ban đêm theo khoản 2 Điều 98 Bộ luật Lao động 2019. Nói cách khác, lương cho mỗi giờ làm việc ban đêm không được thấp hơn 130% tiền lương giờ của công việc đó.

Ví dụ, nếu một người lao động trực từ 22 giờ đến 06 giờ, nhưng chỉ có 4 giờ thực sự phải làm việc trong khung này và 4 giờ còn lại là chờ, thì doanh nghiệp phải xác định rõ 4 giờ nào là giờ làm việc thực tế. Phần giờ làm việc thực tế trong ban đêm được trả theo mức ít nhất 130% tiền lương giờ của công việc bình thường, trừ khi có thỏa thuận có lợi hơn cho người lao động. Việc chờ đợi có được tính lương hay không phải căn cứ vào quy chế trả lương, thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động và tính chất bắt buộc của việc trực.

2. Trực đêm đồng thời là làm thêm giờ

Khi thời gian trực đêm vượt quá thời giờ làm việc bình thường, phần vượt quá được xác định là làm thêm giờ. Khi đó, người lao động được hưởng đồng thời tiền lương làm thêm giờ và tiền lương làm việc ban đêm theo khoản 3 Điều 98 Bộ luật Lao động 2019. Cách hiểu đúng là khoản trả thêm 20% được cộng thêm trên nền tiền lương làm thêm giờ của công việc làm ban ngày, ngoài khoản 30% cho giờ ban đêm.

Với cách tính pháp lý phổ biến, nếu làm thêm giờ vào ban đêm trong ngày làm việc bình thường, tiền lương phải đạt mức tương ứng 200% cho giờ làm thêm ban ngày, sau đó cộng thêm 30% do làm ban đêm và cộng thêm 20% của tiền lương giờ làm việc ban ngày theo quy định chuyên biệt. Trong tổng hợp thực hành, nhiều trường hợp giờ làm thêm ban đêm của ngày làm việc bình thường được thể hiện ở mức cao hơn đáng kể so với giờ làm bình thường, nên doanh nghiệp phải tính đúng từng lớp quyền lợi chứ không gộp chung một mức.

3. Trực đêm rơi vào ngày nghỉ hằng tuần hoặc ngày lễ, tết

Nếu người lao động trực đêm vào ngày nghỉ hằng tuần hoặc ngày nghỉ lễ, tết và có làm việc thực tế, phần thời giờ đó được tính theo cơ chế làm thêm giờ của ngày nghỉ tương ứng, đồng thời cộng thêm khoản tiền lương làm việc ban đêm theo Điều 98 Bộ luật Lao động 2019. Đây là trường hợp có mức trả cao nhất trong các tình huống phổ biến về trực đêm, do đồng thời phát sinh yếu tố ngày nghỉ và ban đêm. Doanh nghiệp phải phân biệt đúng ngày làm việc bình thường, ngày nghỉ hằng tuần và ngày lễ, tết để tránh áp dụng sai hệ số lương.

Cách xác định tiền lương giờ để tính lương trực đêm

Theo điểm a khoản 1 Điều 55 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, tiền lương giờ được xác định bằng tiền lương tháng chia cho số giờ làm việc tiêu chuẩn trong tháng. Khi người lao động hưởng lương theo thời gian, doanh nghiệp phải lấy mức tiền lương thực trả làm căn cứ, không được tự ý hạ thấp đơn giá giờ làm việc để giảm tiền lương ban đêm hoặc tiền lương làm thêm giờ. Cách tính này bảo đảm sự thống nhất giữa lương tháng, lương giờ và các khoản phụ trội do làm đêm hoặc làm thêm giờ.

Trên thực tế, công thức thường dùng là: tiền lương trực đêm = tiền lương giờ x số giờ làm việc thực tế trong ban đêm x 130% đối với giờ làm ban đêm thông thường. Nếu vừa làm thêm giờ vừa làm ban đêm thì phải cộng tiếp các khoản theo quy định về làm thêm giờ. Đối với người hưởng lương theo sản phẩm hoặc lương khoán, việc quy đổi vẫn phải bảo đảm khoản tăng thêm tối thiểu theo luật cho thời gian làm việc ban đêm và làm thêm giờ.

Những điểm doanh nghiệp cần lưu ý khi tổ chức trực đêm

Thứ nhất, hợp đồng lao động, nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể và quy chế trả lương phải quy định rõ cơ chế trả lương cho trực đêm, chấm công, nghỉ giữa ca, và xử lý thời gian chờ. Thứ hai, bảng chấm công phải thể hiện được thời gian làm việc thực tế, vì đây là căn cứ trực tiếp để tính tiền lương ban đêm và làm thêm giờ. Thứ ba, nếu doanh nghiệp yêu cầu người lao động ở lại công ty qua đêm theo ca trực, không được đánh đồng toàn bộ thời gian hiện diện với thời gian nghỉ tự do của người lao động.

Đối với các vị trí an ninh, lễ tân, kỹ thuật, vận hành hệ thống hoặc chăm sóc khách hàng ngoài giờ, tính chất trực đêm thường gắn với việc sẵn sàng xử lý tình huống phát sinh. Trong những vị trí này, nếu người lao động phải thực hiện nhiệm vụ bất kỳ trong khoảng 22 giờ đến 06 giờ, doanh nghiệp phải trả lương theo đúng quy tắc về giờ ban đêm. Nếu công việc phát sinh làm vượt khung giờ bình thường, phần vượt đó là làm thêm giờ và không được bỏ sót khoản phụ trội hợp pháp.

Kết luận

Trực đêm tại công ty nhưng không làm việc liên tục không làm thay đổi nguyên tắc cốt lõi: chỉ thời gian làm việc thực tế mới là căn cứ trả lương, nhưng mọi giờ làm việc thực tế trong khung 22 giờ đến 06 giờ đều phải được cộng ít nhất 30% lương do làm ban đêm theo Điều 98 Bộ luật Lao động 2019. Nếu phát sinh làm thêm giờ, người lao động còn được hưởng thêm khoản phụ trội tương ứng với làm thêm giờ và làm đêm. Vì vậy, doanh nghiệp cần tách bạch rõ giờ làm việc, giờ chờ và giờ làm thêm để trả lương đúng, đủ và tránh tranh chấp lao động.

Tài liệu tham khảo

  • Bộ luật Lao động 2019, đặc biệt Điều 98 về tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm.
  • Nghị định 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ, đặc biệt Điều 55 về tiền lương làm căn cứ tính trả lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm.
  • Văn bản hướng dẫn và giải đáp nghiệp vụ của cơ quan quản lý lao động về cách tính lương ban đêm, làm thêm giờ.
  • Các tài liệu pháp lý chuyên ngành về chế độ tiền lương theo giờ, theo ca và theo sản phẩm trong quan hệ lao động.

Câu hỏi thường gặp

Trực đêm nhưng chỉ ngồi chờ, không làm việc liên tục thì có được trả lương không?
Có, nếu thời gian đó là thời giờ làm việc theo phân công hoặc phải sẵn sàng xử lý công việc. Phần làm việc thực tế trong khung ban đêm vẫn phải trả thêm ít nhất 30%.
Làm từ 22 giờ đến 06 giờ sáng hôm sau được tính thế nào?
Đây là thời gian làm việc ban đêm. Tiền lương cho giờ làm việc thực tế trong khung này phải cộng ít nhất 30% so với lương giờ của công việc bình thường.
Trực đêm vượt quá giờ làm việc bình thường thì tính ra sao?
Phần vượt quá là làm thêm giờ. Nếu rơi vào ban đêm, người lao động được hưởng cả tiền lương làm thêm giờ và khoản cộng thêm 30% cho làm việc ban đêm.
Doanh nghiệp có được trả gộp một khoản cố định cho trực đêm không?
Chỉ được nếu khoản đó bảo đảm không thấp hơn mức luật định và cách tính vẫn minh bạch, kiểm tra được. Quy chế trả lương không được làm mất quyền hưởng các khoản bắt buộc theo luật.
Người hưởng lương theo sản phẩm có được tính phụ cấp trực đêm không?
Có. Khi làm việc ban đêm hoặc làm thêm giờ, tiền lương vẫn phải được quy đổi và cộng các khoản phụ trội tương ứng theo quy định hiện hành.