Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc: điều kiện, cách tính và thời điểm chi trả
Phân tích điều kiện hưởng, công thức tính và thời điểm chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc theo pháp luật lao động Việt Nam.
Tổng quan
Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc là hai chế độ tài chính khác nhau khi chấm dứt quan hệ lao động, phản ánh hai nhóm nguyên nhân chấm dứt và hai cơ chế bảo vệ người lao động riêng biệt. Bài viết làm rõ điều kiện phát sinh, căn cứ tính, công thức áp dụng và thời điểm người sử dụng lao động phải thanh toán theo pháp luật lao động Việt Nam hiện hành. Nội dung đồng thời chỉ ra các điểm cần phân biệt để tránh nhầm lẫn trong thực tiễn quản trị nhân sự và giải quyết tranh chấp lao động.Khái quát về hai chế độ trợ cấp khi chấm dứt quan hệ lao động
Trong pháp luật lao động Việt Nam, trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc là hai khoản tiền do người sử dụng lao động chi trả khi hợp đồng lao động chấm dứt hoặc khi người lao động bị mất việc theo những căn cứ pháp luật xác định. Hai chế độ này có điểm chung là đều gắn với quá trình làm việc thực tế của người lao động và đều nhằm bù đắp một phần thu nhập khi quan hệ lao động kết thúc. Tuy nhiên, mỗi chế độ có điều kiện phát sinh, phạm vi áp dụng và cách tính khác nhau.
Trợ cấp thôi việc được quy định tại Điều 46 Bộ luật Lao động 2019 và được hướng dẫn bởi Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP. Trợ cấp mất việc được quy định tại Điều 47 Bộ luật Lao động 2019 và cũng được hướng dẫn chi tiết tại Nghị định 145/2020/NĐ-CP. Việc phân biệt đúng hai chế độ này là điều kiện tiên quyết để xác định nghĩa vụ của người sử dụng lao động và quyền lợi của người lao động.
Điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc
Căn cứ phát sinh
Theo khoản 1 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên khi hợp đồng lao động chấm dứt trong các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật này. Đây là nhóm chấm dứt hợp đồng theo căn cứ pháp luật, bao gồm hết hạn hợp đồng, đã hoàn thành công việc, hai bên thỏa thuận chấm dứt, người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng hợp pháp và một số trường hợp khác theo Điều 34.
Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019 loại trừ trường hợp người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo điểm e khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019. Vì vậy, không phải mọi trường hợp nghỉ việc đều phát sinh trợ cấp thôi việc.
Điều kiện về thời gian làm việc
Người lao động phải làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên. Theo điểm c khoản 3 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc được xác định theo năm, trong đó tháng lẻ từ đủ 01 tháng đến đủ 06 tháng được tính là 1/2 năm; trên 06 tháng được tính tròn 01 năm. Quy tắc này giúp xác định chính xác số năm làm việc làm căn cứ trả trợ cấp.
Điều kiện hưởng trợ cấp mất việc
Căn cứ phát sinh
Theo khoản 1 Điều 47 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động phải trả trợ cấp mất việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên mà bị mất việc theo khoản 11 Điều 34 của Bộ luật này. Đây là trường hợp chấm dứt hợp đồng do thay đổi cơ cấu, công nghệ, vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia tách, chuyển đổi loại hình, chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản theo quy định của pháp luật lao động.
Khác với trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc gắn với sự thay đổi từ phía doanh nghiệp hoặc nguyên nhân khách quan làm cho vị trí việc làm không còn được duy trì. Vì vậy, chế độ này có mức chi trả cao hơn và có mức sàn tối thiểu nhằm bảo đảm quyền lợi của người lao động bị mất việc ngoài ý chí chủ quan của họ.
Điều kiện về thời gian làm việc
Tương tự trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc chỉ áp dụng đối với người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên. Thời gian làm việc để tính trợ cấp cũng được xác định theo hướng dẫn tại Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, theo đó thời gian lẻ được quy đổi theo quy tắc nêu trên. Nếu người lao động có thời gian làm việc ngắn hơn 12 tháng thì không phát sinh nghĩa vụ trả trợ cấp mất việc theo Điều 47 Bộ luật Lao động 2019.
Cách tính trợ cấp thôi việc
Theo khoản 1 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, mỗi năm làm việc được trợ cấp bằng 1/2 tháng tiền lương. Căn cứ tính là thời gian làm việc để tính trợ cấp, được xác định bằng tổng thời gian người lao động thực tế làm việc cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc trước đó theo khoản 2 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019. Cách tính này bảo đảm nguyên tắc chỉ tính cho phần thời gian chưa được hưởng chế độ tương ứng.
Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là bình quân tiền lương theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng, theo khoản 3 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019. Vì vậy, trong thực tiễn phải đối chiếu chính xác mức lương trong 06 tháng cuối cùng của hợp đồng lao động, bao gồm các khoản cấu thành tiền lương theo hợp đồng.
Công thức khái quát: Trợ cấp thôi việc = Thời gian làm việc tính trợ cấp x 1/2 tháng tiền lương.
Cách tính trợ cấp mất việc
Theo khoản 1 Điều 47 Bộ luật Lao động 2019, mỗi năm làm việc được trợ cấp bằng 01 tháng tiền lương. Tuy nhiên, pháp luật quy định mức tối thiểu bằng 02 tháng tiền lương, kể cả trong trường hợp thời gian làm việc tính trợ cấp cho ra số tiền thấp hơn. Đây là điểm khác biệt quan trọng nhất giữa trợ cấp mất việc và trợ cấp thôi việc.
Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc được xác định tương tự theo khoản 2 Điều 47 Bộ luật Lao động 2019, tức là căn cứ vào tổng thời gian thực tế làm việc cho người sử dụng lao động, trừ thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được trả trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc. Tiền lương làm căn cứ tính vẫn là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc, theo hướng dẫn của Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
Công thức khái quát: Trợ cấp mất việc = Thời gian làm việc tính trợ cấp x 01 tháng tiền lương, nhưng không thấp hơn 02 tháng tiền lương.
Thời điểm chi trả trợ cấp
Theo khoản 1 Điều 48 Bộ luật Lao động 2019, trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trong đó có trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc nếu phát sinh. Quy định này thể hiện nghĩa vụ thanh toán kịp thời, tránh kéo dài việc giải quyết quyền lợi sau khi quan hệ lao động đã chấm dứt.
Pháp luật cũng cho phép gia hạn trong một số trường hợp đặc biệt theo khoản 2 Điều 48 Bộ luật Lao động 2019, chẳng hạn như trường hợp người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc thay đổi cơ cấu tổ chức. Dù vậy, nguyên tắc chung vẫn là thanh toán trong thời hạn 14 ngày làm việc sau ngày chấm dứt hợp đồng.
Phân biệt trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc
Hai chế độ này khác nhau trước hết ở nguyên nhân phát sinh. Trợ cấp thôi việc áp dụng khi quan hệ lao động chấm dứt theo các căn cứ hợp pháp thuộc Điều 34 Bộ luật Lao động 2019, còn trợ cấp mất việc áp dụng khi người lao động mất việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế theo khoản 11 Điều 34.
Hai chế độ cũng khác nhau về mức hưởng. Trợ cấp thôi việc bằng 1/2 tháng lương cho mỗi năm làm việc, trong khi trợ cấp mất việc bằng 01 tháng lương cho mỗi năm làm việc và tối thiểu bằng 02 tháng lương. Do đó, trong cùng một hệ thống tính toán, trợ cấp mất việc thường có giá trị lớn hơn nhằm bù đắp mức độ bất lợi cao hơn đối với người lao động.
Về nguyên tắc thời gian tính trợ cấp, cả hai chế độ đều loại trừ thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được thanh toán trợ cấp trước đó. Đây là cơ chế ngăn ngừa việc chi trả trùng lặp đối với cùng một khoảng thời gian làm việc.
Những vấn đề thực tiễn cần lưu ý
Trong thực tiễn, cần xác định chính xác căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động để lựa chọn đúng chế độ trợ cấp. Một trường hợp chấm dứt hợp đồng có thể chỉ làm phát sinh trợ cấp thôi việc, cũng có thể làm phát sinh trợ cấp mất việc nếu lý do chấm dứt thuộc nhóm thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc lý do kinh tế theo Điều 47 Bộ luật Lao động 2019. Việc nhầm lẫn căn cứ sẽ dẫn đến sai sót về số tiền phải trả.
Cần đặc biệt kiểm tra thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp và các khoảng thời gian đã được thanh toán trợ cấp trước đó. Đây là dữ liệu trực tiếp ảnh hưởng đến thời gian tính trợ cấp, do đó hồ sơ lao động, sổ bảo hiểm và quyết định chấm dứt hợp đồng phải được đối chiếu đồng bộ. Trong doanh nghiệp có nhiều lần ký hợp đồng nối tiếp, nguyên tắc tính thời gian thực tế làm việc cần được áp dụng nhất quán theo quy định và hướng dẫn của Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
Về phía người sử dụng lao động, việc chi trả đúng hạn theo Điều 48 Bộ luật Lao động 2019 là nghĩa vụ bắt buộc. Việc chậm thanh toán không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi người lao động mà còn làm phát sinh rủi ro tranh chấp lao động và trách nhiệm pháp lý liên quan. Do đó, doanh nghiệp cần chuẩn hóa quy trình quyết toán khi chấm dứt hợp đồng để bảo đảm tính tuân thủ.
Kết luận
Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc là hai thiết chế quan trọng của pháp luật lao động Việt Nam, được xây dựng trên những căn cứ chấm dứt quan hệ lao động khác nhau. Việc xác định đúng điều kiện hưởng, công thức tính và thời điểm chi trả có ý nghĩa trực tiếp đối với quyền lợi của người lao động và nghĩa vụ của người sử dụng lao động. Trong áp dụng thực tiễn, Điều 46, Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Lao động 2019 cùng với Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP là các căn cứ pháp lý trung tâm cần được đối chiếu đồng thời.
Tài liệu tham khảo
- Bộ luật Lao động 2019, đặc biệt Điều 34, Điều 46, Điều 47 và Điều 48.
- Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ, đặc biệt Điều 8.
- Luật Bảo hiểm xã hội 2014 và các quy định liên quan đến điều kiện hưởng lương hưu.
- Văn bản hướng dẫn, hỏi đáp pháp luật lao động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.