Tội phạm khởi tố theo yêu cầu bị hại trong pháp luật hình sự Việt Nam
Tổng hợp các tội danh chỉ khởi tố theo yêu cầu bị hại theo luật hiện hành, kèm điều kiện và lưu ý áp dụng.
Tổng quan
Khởi tố theo yêu cầu của bị hại là cơ chế tố tụng đặc thù, gắn quyền yêu cầu xử lý hình sự với lợi ích trực tiếp của người bị xâm hại. Trong hệ thống pháp luật hiện hành, cơ chế này được quy định tập trung tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và áp dụng đối với một số tội danh xác định tại khoản 1 các điều tương ứng của Bộ luật Hình sự 2015. Bài viết làm rõ nhóm tội thường áp dụng, điều kiện khởi tố, ý nghĩa pháp lý của việc rút yêu cầu và những điểm cần lưu ý khi xác định phạm vi áp dụng. Nội dung được trình bày theo hướng học thuật, cập nhật theo quy định đang có hiệu lực đến năm 2026.Khái niệm và cơ sở pháp lý của cơ chế khởi tố theo yêu cầu bị hại
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại là trường hợp cơ quan có thẩm quyền chỉ được ra quyết định khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trong những trường hợp luật định. Cơ chế này thể hiện sự cân bằng giữa quyền truy cứu trách nhiệm hình sự của Nhà nước và quyền tự định đoạt của người bị xâm hại trong một số tội phạm ít nghiêm trọng hơn hoặc gắn chủ yếu với lợi ích nhân thân trực tiếp. Căn cứ trực tiếp là khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Về bản chất, đây không phải là quyền lựa chọn khởi kiện dân sự mà là điều kiện tố tụng bắt buộc để mở đầu quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu không có yêu cầu hợp lệ, cơ quan tiến hành tố tụng không được khởi tố vụ án đối với các tội danh thuộc phạm vi điều luật này. Khi người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố, vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp việc rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức theo khoản 3 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Những tội thường áp dụng cơ chế khởi tố theo yêu cầu bị hại
Phạm vi áp dụng được xác định rất cụ thể tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, theo đó chỉ được khởi tố đối với tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự 2015. Đây là các tội thường xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, hoặc quyền lợi nhân thân, uy tín nhất định của cá nhân, tổ chức trong cấu thành cơ bản.
Nhóm tội xâm phạm sức khỏe
Nhóm này gồm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015; tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự 2015; tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội theo khoản 1 Điều 136 Bộ luật Hình sự 2015.
Ngoài ra, còn có tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự 2015, và tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự 2015. Điểm chung của nhóm này là thiệt hại chủ yếu tác động trực tiếp đến thân thể, sức khỏe của người bị hại và mức độ nguy hiểm xã hội ở khung cơ bản được pháp luật giới hạn trong phạm vi khởi tố theo yêu cầu.
Nhóm tội xâm phạm tình dục
Nhóm tiếp theo là tội hiếp dâm theo khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự 2015 và tội cưỡng dâm theo khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự 2015. Quy định này thể hiện sự thận trọng của nhà làm luật đối với các vụ án có tính chất xâm hại trực tiếp đến quyền tự do tình dục, đồng thời vẫn dành không gian tố tụng cho ý chí của người bị hại ở khung cấu thành cơ bản. Khi hành vi rơi vào các tình tiết định khung nặng hơn, nguyên tắc khởi tố theo yêu cầu không còn được áp dụng theo phạm vi khoản 1 Điều 155.
Nhóm tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm
Nhóm này gồm tội làm nhục người khác theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 và tội vu khống theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015. Đây là các tội danh điển hình của cơ chế khởi tố theo yêu cầu bị hại vì quyền lợi bị xâm phạm chủ yếu là danh dự, nhân phẩm, uy tín cá nhân. Việc khởi tố trong các trường hợp này thường gắn chặt với mong muốn bảo vệ trực tiếp của người bị hại và hạn chế việc hình sự hóa khi đương sự không mong muốn tiếp tục xử lý hình sự.
Tội xâm phạm uy tín của cơ quan, tổ chức
Điều 155 còn dẫn chiếu đến khoản 1 Điều 226 Bộ luật Hình sự 2015, tức tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trong cấu thành cơ bản của điều luật này. Mặc dù chủ thể bị xâm hại có thể là cơ quan, tổ chức, cơ chế khởi tố theo yêu cầu vẫn được đặt ra để bảo đảm sự chủ động của chủ thể quyền trong việc lựa chọn xử lý hình sự. Khi hành vi có tính chất, mức độ vượt khung cơ bản, việc khởi tố được thực hiện theo nguyên tắc chung, không phụ thuộc yêu cầu của bị hại.
Điều kiện xác định yêu cầu khởi tố hợp lệ
Yêu cầu khởi tố phải do chính bị hại đưa ra; nếu bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, hoặc đã chết thì người đại diện hợp pháp có quyền yêu cầu theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Điều này bảo đảm quyền tố tụng không bị bỏ trống khi người bị hại không thể tự mình thực hiện. Yêu cầu phải thể hiện rõ ý chí truy cứu trách nhiệm hình sự, không thể suy đoán từ các khiếu nại dân sự hoặc yêu cầu bồi thường đơn thuần.
Việc rút yêu cầu cũng có ý nghĩa pháp lý trực tiếp. Theo khoản 3 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khi bị hại hoặc người đại diện hợp pháp đã rút yêu cầu thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp việc rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức. Quy định này nhằm bảo đảm tính ổn định của tố tụng và ngăn ngừa việc lạm dụng quyền yêu cầu khởi tố như một công cụ gây sức ép ngoài tố tụng.
Ý nghĩa của cơ chế này trong thực tiễn áp dụng pháp luật
Cơ chế khởi tố theo yêu cầu bị hại góp phần phân loại hợp lý các vụ án hình sự, tránh hình sự hóa những xung đột có thể được giải quyết bằng các biện pháp khác khi người bị hại không muốn tiếp tục tố tụng. Đồng thời, nó tôn trọng quyền tự quyết của người bị xâm hại đối với những quan hệ pháp lý mang tính nhân thân sâu sắc. Trong thực tiễn, cơ chế này cũng đặt ra yêu cầu rất chặt chẽ về việc xác định đúng tội danh, đúng khoản áp dụng và đúng chủ thể có quyền yêu cầu.
Một sai sót thường gặp là nhầm lẫn giữa tội danh được quy định tại điều luật với phạm vi khoản 1 của điều luật đó. Trên thực tế, Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 chỉ giới hạn ở khoản 1 của các điều luật được liệt kê, nên nếu hành vi có đủ dấu hiệu ở khung nặng hơn thì không còn thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu bị hại. Vì vậy, việc định tội và định khung phải được thực hiện chính xác ngay từ giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác, kiến nghị khởi tố.
Nhận diện nhanh các tội thường áp dụng
- Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015.
- Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự 2015.
- Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội theo khoản 1 Điều 136 Bộ luật Hình sự 2015.
- Vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự 2015.
- Vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự 2015.
- Hiếp dâm theo khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự 2015.
- Cưỡng dâm theo khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự 2015.
- Làm nhục người khác theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015.
- Vu khống theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015.
- Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo khoản 1 Điều 226 Bộ luật Hình sự 2015.
Kết luận
Khởi tố theo yêu cầu bị hại là một thiết chế tố tụng đặc thù, áp dụng giới hạn cho các tội danh được xác định rõ trong khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Nhóm tội thường gặp nhất là các tội xâm phạm sức khỏe, tình dục, danh dự, nhân phẩm và một tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ở khung cơ bản. Việc xác định đúng phạm vi áp dụng, chủ thể có quyền yêu cầu và hậu quả pháp lý của việc rút yêu cầu là điều kiện then chốt để bảo đảm tính hợp pháp của toàn bộ quá trình tố tụng.
Tài liệu tham khảo
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, đặc biệt là khoản 1 và khoản 3 Điều 155.
- Bộ luật Hình sự 2015, các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226.
- Cổng thông tin tuyên truyền, phổ biến pháp luật của Bộ Tư pháp về khởi tố theo yêu cầu của bị hại.
- Các bài nghiên cứu nghiệp vụ trên cổng thông tin ngành kiểm sát về Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về tố tụng hình sự và hình sự.