Thuế TNCN đối với tiền thưởng Tết và thưởng doanh số
Giải đáp quy định hiện hành về thuế TNCN đối với thưởng Tết và thưởng doanh số, căn cứ khấu trừ và trường hợp áp dụng.
Tổng quan
Tiền thưởng Tết và thưởng doanh số là những khoản thu nhập thường phát sinh trong quan hệ lao động hoặc quan hệ chi trả thù lao. Vấn đề đặt ra là khoản tiền này có phải tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân và tổ chức chi trả có trách nhiệm khấu trừ tại nguồn hay không. Trên cơ sở quy định hiện hành, bài viết làm rõ bản chất pháp lý của từng khoản thưởng, căn cứ khấu trừ và các trường hợp miễn/không phải khấu trừ. Nội dung tập trung vào cách áp dụng trong thực tiễn chi trả và quyết toán thuế.Tiền thưởng Tết, thưởng doanh số có phải khấu trừ thuế TNCN không?
Tiền thưởng Tết và thưởng doanh số đều là các khoản thu nhập gắn với kết quả lao động, hiệu quả kinh doanh hoặc chính sách đãi ngộ của doanh nghiệp. Về nguyên tắc, khi khoản thưởng được xác định là thu nhập từ tiền lương, tiền công thì phải tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân. Việc chi trả khoản thưởng vì vậy không làm thay đổi bản chất thuế của khoản tiền này. Tổ chức trả thưởng có trách nhiệm xem xét nghĩa vụ khấu trừ ngay tại thời điểm chi trả theo quy định hiện hành.
Đối với tiền thưởng Tết, quy định về thu nhập chịu thuế đã xác định rõ các khoản thưởng bằng tiền hoặc không bằng tiền, dưới mọi hình thức, đều thuộc thu nhập chịu thuế, trừ một số khoản thưởng được loại trừ theo danh mục pháp luật quy định. Căn cứ trực tiếp là điểm e khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC, trong đó tiền thưởng Tết không thuộc nhóm khoản thưởng được loại trừ. Vì vậy, khoản thưởng Tết về nguyên tắc phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.
Đối với thưởng doanh số, đây thường là khoản thưởng phát sinh theo chỉ tiêu bán hàng, hiệu quả kinh doanh hoặc mức hoàn thành doanh số. Nếu khoản chi này do người sử dụng lao động trả cho người lao động thì được xác định là thu nhập từ tiền lương, tiền công theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC. Khi đó, thưởng doanh số cũng phải cộng vào thu nhập chịu thuế TNCN và được xem xét khấu trừ theo phương thức áp dụng đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công.
Căn cứ pháp lý về khoản thưởng chịu thuế
Pháp luật thuế TNCN hiện hành không tách riêng tiền thưởng Tết hay thưởng doanh số thành một nhóm miễn thuế. Ngược lại, nguyên tắc chung là mọi khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền do người sử dụng lao động trả cho người lao động đều có thể thuộc thu nhập chịu thuế, trừ trường hợp được pháp luật loại trừ rõ ràng. Theo điểm e khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC, tiền thưởng gắn với lao động, tiền lương, tiền công được đưa vào thu nhập chịu thuế, trong khi một số khoản thưởng mang tính chất khen thưởng nhà nước, thưởng sáng kiến theo quy chế chuyên biệt mới được xem xét loại trừ.
Riêng các khoản chi trả có tính chất tiền công, tiền thù lao cho cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng, tổ chức chi trả phải áp dụng mức khấu trừ 10% nếu mỗi lần chi trả từ 2 triệu đồng trở lên theo điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC. Quy định này đặc biệt quan trọng đối với thưởng doanh số trả cho cộng tác viên, đại lý, nhân sự thời vụ hoặc cá nhân làm việc ngắn hạn. Như vậy, không chỉ bản chất khoản thưởng mà cả tình trạng hợp đồng lao động của người nhận thưởng đều quyết định nghĩa vụ khấu trừ.
Khấu trừ thuế đối với tiền thưởng Tết
Tiền thưởng Tết trả cho người lao động đang làm việc theo hợp đồng lao động thường được cộng vào thu nhập tiền lương, tiền công của kỳ tính thuế tương ứng. Doanh nghiệp có trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN theo biểu thuế lũy tiến từng phần đối với cá nhân cư trú có hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên. Việc khấu trừ không tách biệt theo tên gọi của khoản tiền mà căn cứ vào tổng thu nhập tính thuế sau khi trừ các khoản được giảm trừ hợp lệ.
Trường hợp người lao động chưa đến mức phải nộp thuế sau khi tính tổng thu nhập, giảm trừ gia cảnh và các khoản bảo hiểm bắt buộc, doanh nghiệp không phát sinh số thuế phải khấu trừ. Tuy nhiên, nếu khoản thưởng Tết làm tổng thu nhập tháng hoặc năm vượt ngưỡng chịu thuế, doanh nghiệp phải thực hiện khấu trừ theo đúng kỳ trả thu nhập. Với lao động thời vụ, cộng tác viên hoặc cá nhân không ký hợp đồng lao động, nếu khoản thưởng Tết được coi là thu nhập từ tiền công, tiền thù lao và mỗi lần trả từ 2 triệu đồng trở lên thì áp dụng khấu trừ 10% theo điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC.
Khấu trừ thuế đối với thưởng doanh số
Thưởng doanh số thường gắn chặt với kết quả bán hàng và được doanh nghiệp quy định trong quy chế lương, thưởng, KPI hoặc chính sách hoa hồng. Nếu người nhận là nhân viên có hợp đồng lao động, khoản thưởng doanh số được tính chung vào thu nhập từ tiền lương, tiền công và khấu trừ theo biểu lũy tiến từng phần. Cách xử lý này bảo đảm phản ánh đúng bản chất của khoản thu nhập và tránh việc tách riêng để áp dụng sai căn cứ thuế.
Nếu người nhận là cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng dưới 03 tháng, khoản thưởng doanh số thường thuộc nhóm tiền công, tiền thù lao. Khi đó, tổ chức chi trả phải khấu trừ 10% trên mỗi lần chi trả từ 2 triệu đồng trở lên theo điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC. Nghĩa vụ này áp dụng ngay trước khi thanh toán, đồng thời doanh nghiệp phải kê khai và nộp số thuế đã khấu trừ theo quy định của pháp luật quản lý thuế.
Các trường hợp không khấu trừ hoặc chưa phải khấu trừ
Không phải mọi khoản thưởng đều làm phát sinh ngay nghĩa vụ khấu trừ. Trường hợp cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên nhưng tổng thu nhập tính thuế sau khi trừ các khoản hợp lệ bằng hoặc nhỏ hơn 0 thì chưa phát sinh số thuế phải nộp. Trường hợp này không phải là miễn thuế cho khoản thưởng, mà chỉ là chưa đến ngưỡng chịu thuế tại thời điểm tính toán.
Đối với cá nhân không cư trú, thu nhập từ tiền lương, tiền công vẫn thuộc diện chịu thuế theo quy định riêng và thường không áp dụng cơ chế giảm trừ gia cảnh như cá nhân cư trú. Vì vậy, khi doanh nghiệp chi thưởng Tết hoặc thưởng doanh số cho cá nhân không cư trú, cần xác định đúng tình trạng cư trú để áp dụng phương pháp tính thuế phù hợp. Việc xác định sai có thể dẫn đến khấu trừ thiếu hoặc thừa, làm phát sinh rủi ro khi quyết toán và thanh tra thuế.
Ý nghĩa thực tiễn đối với doanh nghiệp và người lao động
Đối với doanh nghiệp, việc xác định đúng tính chất pháp lý của khoản thưởng giúp thực hiện đúng nghĩa vụ khấu trừ, kê khai và nộp thuế TNCN. Mấu chốt nằm ở chỗ khoản chi đó có phải là thu nhập từ tiền lương, tiền công hay là khoản chi trả độc lập theo hợp đồng dịch vụ, thù lao hoặc cộng tác. Quy chế thưởng, hợp đồng lao động, thỏa thuận trả thưởng và hồ sơ kế toán cần thống nhất về bản chất chi trả để tránh tranh chấp thuế.
Đối với người lao động, tiền thưởng Tết và thưởng doanh số không mặc nhiên là khoản được nhận trọn vẹn. Khi nhận thưởng, người lao động cần dự liệu nghĩa vụ thuế để ước tính số tiền thực lĩnh và số thuế có thể được khấu trừ trong năm. Việc chủ động lưu giữ chứng từ khấu trừ, bảng lương và thông tin chi trả giúp thuận lợi khi quyết toán thuế cuối năm hoặc đề nghị hoàn thuế nếu đủ điều kiện.
Kết luận
Tiền thưởng Tết và thưởng doanh số đều phải khấu trừ thuế TNCN khi chúng mang bản chất là thu nhập từ tiền lương, tiền công hoặc tiền công, tiền thù lao theo quy định hiện hành. Với người lao động có hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên, khoản thưởng được cộng vào thu nhập chịu thuế và khấu trừ theo biểu lũy tiến từng phần. Với cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng dưới 03 tháng, nếu mỗi lần chi trả từ 2 triệu đồng trở lên thì tổ chức chi trả khấu trừ 10% trước khi thanh toán. Cách áp dụng đúng căn cứ pháp lý là điều kiện cần để bảo đảm nghĩa vụ thuế và hạn chế rủi ro khi quyết toán.
Tài liệu tham khảo
- Thông tư 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính.
- Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007, đã được sửa đổi, bổ sung.
- Nghị định 65/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân.
- Luật Quản lý thuế 2019.
- Nghị định 126/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế.