Thực hành tín ngưỡng, tôn giáo và hoạt động văn hóa cộng đồng

Khung pháp lý hiện hành về thực hành tín ngưỡng, tôn giáo và hoạt động văn hóa cộng đồng ở Việt Nam năm 2026.

Tổng quan

Thực hành tín ngưỡng, tôn giáo và hoạt động văn hóa cộng đồng là những hình thức thể hiện quyền tự do tinh thần, đồng thời gắn với trật tự quản lý xã hội và đời sống văn hóa ở cơ sở. Khung pháp lý hiện hành điều chỉnh đồng thời quyền của cá nhân, trách nhiệm của cộng đồng và thẩm quyền quản lý nhà nước, nhằm bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhưng không làm phương hại đến lợi ích công cộng, an ninh, trật tự và thuần phong mỹ tục. Trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp từ 01/07/2025, việc giải quyết thủ tục hành chính và quản lý hoạt động tại cơ sở cần được thực hiện đúng thẩm quyền theo pháp luật chuyên ngành và pháp luật về chính quyền địa phương. Nội dung dưới đây hệ thống hóa các nguyên tắc, điều kiện pháp lý và những vấn đề thường gặp trong thực tiễn áp dụng.

Khái quát về thực hành tín ngưỡng, tôn giáo và hoạt động văn hóa cộng đồng

Thực hành tín ngưỡng, tôn giáo là việc cá nhân, cộng đồng bày tỏ niềm tin, tổ chức lễ nghi, sinh hoạt tôn giáo hoặc tham gia các hoạt động gắn với đức tin theo khuôn khổ pháp luật. Hoạt động văn hóa cộng đồng là các sinh hoạt mang tính tập thể của dân cư, thường diễn ra tại đình, đền, miếu, nhà thờ họ, trung tâm văn hóa, không gian công cộng hoặc trong phạm vi cộng đồng dân cư. Hai nhóm hoạt động này có giao thoa rõ rệt, vì nhiều lễ hội, nghi lễ, phong tục và thực hành truyền thống vừa mang yếu tố tín ngưỡng vừa mang giá trị văn hóa.

Pháp luật hiện hành nhìn nhận đây là các quyền và hoạt động được tôn trọng, bảo hộ, đồng thời phải được tổ chức phù hợp với lợi ích chung. Cách tiếp cận của pháp luật Việt Nam là bảo đảm tự do thực hành tín ngưỡng, tôn giáo, nhưng đặt trong trật tự quản lý thống nhất của Nhà nước để ngăn ngừa lợi dụng tôn giáo, mê tín dị đoan, xâm hại quyền của người khác hoặc làm mất an ninh, trật tự xã hội.

Cơ sở pháp lý điều chỉnh hiện hành

Nền tảng pháp lý trung tâm hiện nay là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016, đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 84/2025/QH15 và tiếp tục có hiệu lực trong năm 2026 cho đến khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 có hiệu lực từ 01/01/2027. Các quy định chi tiết và biện pháp thi hành được hướng dẫn chủ yếu bởi Nghị định số 162/2017/NĐ-CP. Đây là hai văn bản nền tảng khi xem xét việc thực hành tín ngưỡng, tôn giáo trong thực tiễn năm 2026.

Bên cạnh đó, các hoạt động văn hóa cộng đồng còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật về di sản văn hóa, lễ hội, phòng, chống bạo lực, an ninh trật tự, đất đai, xây dựng, phòng cháy chữa cháy và xử phạt vi phạm hành chính. Khi một hoạt động vừa có yếu tố tín ngưỡng vừa có yếu tố lễ hội hay sinh hoạt cộng đồng, việc áp dụng pháp luật phải căn cứ đúng bản chất của hoạt động và mục đích tổ chức để xác định thủ tục, trách nhiệm và giới hạn pháp lý tương ứng.

Quyền thực hành tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân và cộng đồng

Theo Điều 6 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016, mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; được bày tỏ niềm tin, thực hành nghi lễ, tham gia sinh hoạt tôn giáo và được Nhà nước tôn trọng, bảo hộ quyền này. Quyền đó được thực hiện trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, không bị phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đối với cộng đồng, quyền thực hành tín ngưỡng còn thể hiện ở việc duy trì cơ sở thờ tự, nhà sinh hoạt tôn giáo, địa điểm sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội truyền thống và các tập quán gắn với cộng đồng dân cư.

Điểm đáng chú ý là quyền này không chỉ thuộc về tổ chức tôn giáo đã được công nhận mà còn thuộc về người có tín ngưỡng và cộng đồng dân cư. Vì vậy, khi đánh giá tính hợp pháp của một hoạt động, cần phân biệt rõ giữa sinh hoạt tín ngưỡng dân gian, sinh hoạt tôn giáo có tổ chức và hoạt động văn hóa cộng đồng thuần túy, tránh đồng nhất các khái niệm dẫn đến áp dụng sai thủ tục hoặc sai thẩm quyền.

Nguyên tắc pháp lý khi tổ chức hoạt động

Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và hoạt động văn hóa cộng đồng phải tuân thủ các nguyên tắc về tôn trọng quyền con người, bình đẳng, không ép buộc, không lợi dụng niềm tin để trục lợi hoặc vi phạm pháp luật. Theo tinh thần của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016, việc thực hành phải bảo đảm đoàn kết dân tộc, giữ gìn đạo đức xã hội, truyền thống văn hóa tốt đẹp và không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Trong thực tiễn, nguyên tắc này đòi hỏi ban tổ chức, chức sắc, chức việc, người đại diện cộng đồng và người tham gia phải xác định đúng mục tiêu của hoạt động. Nếu hoạt động có yếu tố tụ tập đông người, sử dụng âm thanh, dựng rạp, đốt vàng mã, dâng lễ, rước kiệu hoặc tổ chức nghi thức có tính công cộng, chủ thể tổ chức còn phải tuân thủ quy định về an toàn giao thông, vệ sinh môi trường, phòng cháy chữa cháy, trật tự công cộng và quy định của địa phương nơi diễn ra hoạt động.

Thủ tục và trách nhiệm quản lý đối với một số hoạt động thường gặp

Đối với các sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội truyền thống hoặc hoạt động tôn giáo có tính cộng đồng, pháp luật chuyên ngành đặt ra các cơ chế đăng ký, thông báo hoặc xin chấp thuận tùy loại hoạt động và quy mô. Nghị định số 162/2017/NĐ-CP quy định chi tiết nhiều thủ tục liên quan đến đăng ký hoạt động tôn giáo, đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, thông báo tổ chức lễ hội và các hoạt động có yếu tố tôn giáo. Việc xác định đúng loại thủ tục là điều kiện then chốt để tránh vi phạm hành chính do không thực hiện đúng nghĩa vụ thông báo hoặc đăng ký.

Đối với hoạt động văn hóa cộng đồng, chủ thể tổ chức thường phải phối hợp với cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền địa phương để bảo đảm điều kiện về địa điểm, an ninh, y tế và trật tự. Nếu hoạt động diễn ra tại di tích lịch sử - văn hóa, cơ sở thờ tự hoặc địa điểm đã được xếp hạng, thì ngoài pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo còn phải tuân thủ pháp luật về di sản văn hóa và quy chế quản lý di tích. Nếu có thu tiền công đức, tài trợ hoặc đóng góp tự nguyện, việc tiếp nhận và sử dụng phải minh bạch, đúng mục đích, có chứng từ và công khai theo quy định có liên quan.

Giới hạn pháp lý và các hành vi bị nghiêm cấm

Pháp luật cấm lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của tổ chức, cá nhân. Các hành vi ép buộc, mua chuộc, kích động, xuyên tạc giáo lý, truyền bá mê tín dị đoan, trục lợi từ niềm tin hoặc sử dụng tôn giáo để chia rẽ dân tộc đều không được chấp nhận. Trong lĩnh vực văn hóa cộng đồng, những hành vi như tổ chức lễ hội phản cảm, đốt pháo trái phép, chen lấn, cờ bạc, bạo lực, xâm hại di tích hoặc gây ô nhiễm môi trường cũng bị xử lý theo quy định pháp luật chuyên ngành và xử phạt hành chính.

Việc phân biệt giữa thực hành tín ngưỡng hợp pháp và mê tín dị đoan là yêu cầu quan trọng trong quản lý. Thực hành tín ngưỡng hợp pháp có cơ sở truyền thống, mục đích tinh thần và gắn với sinh hoạt cộng đồng; trong khi mê tín dị đoan thường gắn với việc bói toán, yểm bùa, gọi hồn, trục lợi hoặc gieo rắc sự sợ hãi để buộc người khác chi tiền, theo đó có thể bị xử lý nghiêm. Cơ quan quản lý cần đánh giá theo nội dung thực tế của hoạt động, không chỉ dựa vào tên gọi hình thức.

Trách nhiệm của cơ quan nhà nước và cộng đồng dân cư

Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, đồng thời kiểm tra và xử lý vi phạm khi cần thiết. Cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo phối hợp với cơ quan văn hóa, công an, tài nguyên môi trường, y tế và chính quyền địa phương trong việc quản lý hoạt động tại cơ sở. Cộng đồng dân cư, ban quản lý di tích, ban tổ chức lễ hội, cơ sở tôn giáo và người đại diện hợp pháp có nghĩa vụ chấp hành pháp luật, giữ gìn an ninh trật tự và bảo vệ tài sản công cộng.

Từ 01/07/2025, chính quyền địa phương tổ chức theo hai cấp là cấp tỉnh và cấp xã. Điều này có ý nghĩa thực tiễn trong việc xác định thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ, hướng dẫn thủ tục và xử lý phản ánh đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và văn hóa cộng đồng ở cơ sở. Khi thực hiện, các chủ thể cần căn cứ đúng đầu mối cấp xã hoặc cấp tỉnh theo lĩnh vực chuyên ngành và quy chế phân cấp, phân quyền hiện hành.

Ý nghĩa của việc tuân thủ pháp luật trong đời sống cộng đồng

Tuân thủ pháp luật trong thực hành tín ngưỡng, tôn giáo và hoạt động văn hóa cộng đồng giúp bảo vệ sự ổn định của đời sống xã hội, duy trì truyền thống tốt đẹp và phòng ngừa xung đột phát sinh từ hiểu sai hoặc lợi dụng niềm tin. Cơ chế pháp lý hiện hành không nhằm hạn chế quyền tự do tinh thần, mà nhằm bảo đảm quyền ấy được thực hiện trật tự, văn minh và bình đẳng. Khi cộng đồng nắm rõ ranh giới giữa quyền tự do và nghĩa vụ pháp lý, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và văn hóa sẽ phát huy đúng giá trị nhân văn của nó.

Trong thực tiễn năm 2026, yêu cầu quan trọng nhất là nhận diện đúng bản chất hoạt động, áp dụng đúng văn bản còn hiệu lực, và thực hiện đúng thủ tục theo thẩm quyền. Cách tiếp cận này không chỉ bảo đảm tính hợp pháp mà còn góp phần nâng cao chất lượng quản trị văn hóa - xã hội ở địa phương, đặc biệt trong các dịp lễ hội, mùa hành hương và những sự kiện có đông người tham gia.

Tài liệu tham khảo

  • Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016; Luật số 84/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
  • Nghị định số 162/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
  • Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
  • Luật Di sản văn hóa 2001, sửa đổi, bổ sung 2009.
  • Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo hiện hành.
  • Các quy định hiện hành về tổ chức chính quyền địa phương và phân cấp, phân quyền từ ngày 01/07/2025.

Câu hỏi thường gặp

Thực hành tín ngưỡng có phải lúc nào cũng cần đăng ký với cơ quan nhà nước không?
Không. Tùy loại hoạt động, quy mô và địa điểm, pháp luật yêu cầu đăng ký, thông báo hoặc không đặt thủ tục riêng; phải xác định đúng tính chất hoạt động.
Lễ hội gắn với đền, chùa được xem là hoạt động tín ngưỡng hay văn hóa cộng đồng?
Có thể mang cả hai yếu tố. Cần căn cứ mục đích, nội dung nghi lễ, chủ thể tổ chức và địa điểm để áp dụng đúng pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo và pháp luật văn hóa.
Người dân có quyền tham gia sinh hoạt tôn giáo mà không thuộc tổ chức tôn giáo nào không?
Có. Pháp luật bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, kể cả theo hoặc không theo tôn giáo nào, trong khuôn khổ pháp luật.
Hành vi nào thường bị coi là vi phạm trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo?
Lợi dụng niềm tin để trục lợi, ép buộc, kích động, xuyên tạc, gây mất trật tự, xâm hại quyền của người khác hoặc tổ chức mê tín dị đoan đều là hành vi bị cấm.
Khi phát sinh tranh chấp về tổ chức lễ hội hoặc sử dụng địa điểm sinh hoạt, nên căn cứ vào đâu?
Cần căn cứ vào pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo, pháp luật di sản văn hóa, quy chế quản lý địa điểm và quy định phân cấp thẩm quyền đang có hiệu lực.