Khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương thử việc
Phân tích căn cứ pháp lý và cách khấu trừ thuế TNCN đối với tiền lương thử việc theo quy định hiện hành.
Tổng quan
Tiền lương trong thời gian thử việc thuộc nhóm thu nhập từ tiền lương, tiền công và có thể phát sinh nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân theo quy định hiện hành. Việc khấu trừ hay không phụ thuộc chủ yếu vào thời hạn hợp đồng, mức chi trả và điều kiện áp dụng cơ chế khấu trừ tại nguồn. Bài viết làm rõ căn cứ pháp lý, cách xác định nghĩa vụ khấu trừ và các tình huống thực tiễn thường gặp trong giai đoạn thử việc. Nội dung cũng hệ thống hóa những điểm cần lưu ý để doanh nghiệp và người lao động áp dụng thống nhất, đúng pháp luật.Tiền lương thử việc có phải là thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân không?
Theo điểm a khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007, thu nhập từ tiền lương, tiền công là một loại thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân. Tiền lương thử việc là khoản tiền người lao động nhận được từ quan hệ lao động trong giai đoạn thử việc, nên về bản chất vẫn thuộc nhóm thu nhập từ tiền lương, tiền công. Vì vậy, không thể coi tiền lương thử việc là khoản thu nhập nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật thuế thu nhập cá nhân.
Cách hiểu này cũng phù hợp với điểm c khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC, theo đó thu nhập từ tiền lương, tiền công bao gồm tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công mà người lao động nhận được. Khi người sử dụng lao động trả tiền cho thời gian thử việc, khoản chi trả đó vẫn là thu nhập từ lao động và được đặt trong cơ chế quản lý thuế chung đối với tiền lương, tiền công. Do đó, câu trả lời về nguyên tắc là: có, tiền lương thử việc thuộc diện xem xét khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.
Căn cứ pháp lý về khấu trừ thuế trong thời gian thử việc
Quy định trực tiếp về khấu trừ thuế đối với tiền lương thử việc được xác định theo điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC. Văn bản này phân biệt rõ hai nhóm trường hợp: cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng; và cá nhân ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên. Đây là căn cứ quan trọng nhất để xác định mức khấu trừ tại nguồn đối với tiền lương thử việc.
Đối với người lao động đang thử việc, nếu quan hệ thử việc gắn với hợp đồng lao động dưới 03 tháng hoặc không có hợp đồng lao động, tổ chức trả thu nhập phải khấu trừ 10% trên thu nhập trước khi chi trả khi mức chi trả từ 2 triệu đồng/lần trở lên. Trường hợp người lao động đủ điều kiện làm cam kết theo mẫu và có mã số thuế thì không thực hiện khấu trừ 10% theo cơ chế này. Nếu hợp đồng lao động có thời hạn từ 03 tháng trở lên, doanh nghiệp thực hiện khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần như đối với tiền lương, tiền công thông thường.
Các trường hợp khấu trừ thuế đối với lương thử việc
1. Thử việc gắn với hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên
Trường hợp người lao động ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên, tiền lương thử việc và tiền lương chính thức được tính chung trong nhóm thu nhập từ tiền lương, tiền công để khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần. Căn cứ pháp lý là điểm b khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC. Khi đó, doanh nghiệp không áp dụng cơ chế khấu trừ 10% trên từng lần chi trả như đối với hợp đồng ngắn hạn.
Việc xác định thuế trong trường hợp này cần căn cứ tổng thu nhập chịu thuế, các khoản giảm trừ và tình trạng người phụ thuộc theo quy định hiện hành. Nói cách khác, lương thử việc không bị “tách riêng” khỏi quan hệ lao động dài hạn nếu hợp đồng lao động đã được xác lập từ 03 tháng trở lên. Đây là điểm thường gây nhầm lẫn trong thực tiễn kế toán tiền lương.
2. Thử việc theo hợp đồng dưới 03 tháng hoặc không ký hợp đồng lao động
Đối với cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng, điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC quy định khấu trừ 10% trên thu nhập trước khi trả nếu mức chi trả từ 2 triệu đồng/lần trở lên. Vì vậy, lương thử việc trong nhóm quan hệ này thường bị khấu trừ 10% tại nguồn ngay khi chi trả, nếu không có cam kết hợp lệ thay thế.
Trường hợp tiền lương thử việc dưới 2 triệu đồng/lần chi trả thì không thuộc diện khấu trừ 10% theo quy định nêu trên. Tuy nhiên, việc không khấu trừ tại thời điểm chi trả không đồng nghĩa với việc khoản thu nhập đó đương nhiên không chịu thuế; nghĩa vụ thuế cuối cùng vẫn phụ thuộc vào tổng thu nhập tính thuế của cá nhân trong kỳ tính thuế.
3. Trường hợp người lao động đủ điều kiện làm cam kết
Theo điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC, cá nhân cư trú chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ theo tỷ lệ nêu trên, ước tính tổng thu nhập chịu thuế sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế và có mã số thuế thì được làm cam kết để tạm thời không bị khấu trừ 10%. Cam kết phải theo mẫu quy định và cá nhân chịu trách nhiệm về tính chính xác của nội dung cam kết. Cơ chế này đặc biệt quan trọng trong giai đoạn thử việc ngắn hạn.
Doanh nghiệp chỉ được căn cứ vào cam kết hợp lệ để không khấu trừ thuế tại nguồn. Nếu cá nhân không đáp ứng điều kiện nêu trên, việc không khấu trừ sẽ không đúng quy định. Đây là cơ chế ngoại lệ, không phải quy tắc chung.
Thời điểm xác định nghĩa vụ thuế và trách nhiệm của doanh nghiệp
Nghĩa vụ khấu trừ thuế phát sinh ngay tại thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người lao động, theo cơ chế khấu trừ tại nguồn được quy định tại Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC. Doanh nghiệp là chủ thể có trách nhiệm xác định đúng loại hợp đồng, mức chi trả và điều kiện áp dụng cam kết để thực hiện khấu trừ. Nếu khấu trừ sai, doanh nghiệp có thể phát sinh rủi ro về kê khai, nộp thay và quyết toán thuế.
Về phía người lao động, tiền lương thử việc vẫn cần được cộng vào thu nhập từ tiền lương, tiền công khi xác định nghĩa vụ thuế cuối cùng. Trường hợp đã bị khấu trừ 10% trong thời gian thử việc nhưng tổng thu nhập cả năm chưa đến mức phải nộp thuế, người lao động có quyền quyết toán để đề nghị hoàn thuế nếu đáp ứng điều kiện theo quy định về quyết toán thuế thu nhập cá nhân hiện hành. Thực tiễn này thường gặp đối với lao động mới đi làm hoặc thử việc trong thời gian ngắn.
Ý nghĩa thực tiễn đối với doanh nghiệp và người lao động
Đối với doanh nghiệp, việc phân định đúng giữa hợp đồng thử việc dưới 03 tháng và hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên là yếu tố quyết định cơ chế khấu trừ thuế. Chỉ cần xác định sai thời hạn hợp đồng hoặc bỏ sót điều kiện của cam kết, doanh nghiệp có thể áp dụng sai tỷ lệ khấu trừ. Vì vậy, bộ phận nhân sự và kế toán tiền lương phải thống nhất ngay từ khi ký kết thỏa thuận thử việc.
Đối với người lao động, cần kiểm tra loại hợp đồng đã ký, mức lương thử việc, số lần chi trả trong kỳ và tình trạng mã số thuế cá nhân. Nếu đủ điều kiện, người lao động có thể đề nghị làm cam kết để không bị khấu trừ 10% ngay trong thời gian thử việc. Nếu không đủ điều kiện, việc bị khấu trừ tại nguồn là phù hợp với cơ chế pháp luật hiện hành.
Kết luận
Tiền lương thử việc không được miễn trừ khỏi phạm vi thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân. Việc có phải khấu trừ hay không phụ thuộc vào thời hạn hợp đồng và ngưỡng chi trả, với nguyên tắc áp dụng chủ yếu tại điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC. Trường hợp thử việc gắn với hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần; trường hợp dưới 03 tháng hoặc không ký hợp đồng lao động thì khấu trừ 10% nếu từ 2 triệu đồng/lần trở lên, trừ khi cá nhân đủ điều kiện làm cam kết hợp lệ. Cách áp dụng đúng quy định này giúp bảo đảm nghĩa vụ thuế, hạn chế tranh chấp và giảm rủi ro cho cả hai bên.
Tài liệu tham khảo
- Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007.
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân 2012.
- Thông tư 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính.
- Bộ luật Lao động 2019.
- Cổng thông tin văn bản Chính phủ về Thông tư 111/2013/TT-BTC.