Quyền thừa kế của vợ hoặc chồng khi ly thân hoặc đã ly hôn

Phân tích quyền thừa kế của vợ hoặc chồng khi ly thân, đang ly hôn và sau khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam.

Tổng quan

Quan hệ hôn nhân có ảnh hưởng trực tiếp đến tư cách thừa kế của vợ, chồng theo pháp luật dân sự Việt Nam. Khi vợ chồng đang ly thân nhưng hôn nhân chưa chấm dứt hợp pháp, quyền thừa kế vẫn được xác định theo địa vị vợ chồng hợp pháp tại thời điểm người để lại di sản chết. Ngược lại, khi bản án hoặc quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật, quan hệ vợ chồng chấm dứt và tư cách thừa kế theo pháp luật không còn tồn tại. Bài viết làm rõ ranh giới pháp lý giữa ly thân, đang trong quá trình ly hôn và đã ly hôn, qua đó xác định chính xác phạm vi được hưởng di sản.

Khung pháp lý điều chỉnh quyền thừa kế giữa vợ và chồng

Quyền thừa kế của vợ hoặc chồng trước hết được xác định theo Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Trong đó, điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định vợ, chồng là người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Đồng thời, khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 xác định ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Từ hai quy định này có thể thấy, tư cách thừa kế của vợ hoặc chồng không phụ thuộc vào việc hai bên còn chung sống hay đã sống riêng, mà phụ thuộc vào việc quan hệ hôn nhân đã chấm dứt hợp pháp hay chưa. Đây là điểm mấu chốt để phân biệt giữa ly thân và ly hôn trong lĩnh vực thừa kế.

Ly thân không làm chấm dứt quyền thừa kế

Ly thân là tình trạng vợ chồng không còn chung sống, không còn duy trì đời sống hôn nhân trên thực tế, nhưng pháp luật hiện hành không coi đây là căn cứ chấm dứt quan hệ vợ chồng. Vì vậy, nếu một bên chết trong thời gian hai người đang ly thân, người còn sống vẫn là vợ hoặc chồng hợp pháp tại thời điểm mở thừa kế.

Hệ quả pháp lý là người đang ly thân vẫn được hưởng thừa kế theo pháp luật nếu người chết không để lại di chúc hoặc di chúc không hợp pháp. Khi đó, họ được xếp vào hàng thừa kế thứ nhất cùng với cha mẹ, con của người chết theo điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015. Việc vợ chồng đã tách riêng chỗ ở, tài chính hay sinh hoạt không làm mất địa vị thừa kế nếu hôn nhân chưa chấm dứt bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp đang ly thân nhưng có di chúc

Nếu người để lại di sản lập di chúc, phần di sản để lại cho người còn sống sẽ được xác định theo nội dung di chúc. Trường hợp người vợ hoặc chồng thuộc diện người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, họ vẫn có thể được hưởng phần di sản bắt buộc khi đáp ứng đủ điều kiện luật định. Đây là cơ chế bảo vệ tối thiểu cho một số chủ thể, trong đó có vợ hoặc chồng.

Đang trong quá trình ly hôn: chưa có hiệu lực thì vẫn còn quyền thừa kế

Trong thực tiễn, nhiều trường hợp một bên đã nộp đơn ly hôn nhưng Tòa án chưa giải quyết xong, hoặc đã có bản án, quyết định ly hôn nhưng chưa có hiệu lực pháp luật. Ở giai đoạn này, quan hệ hôn nhân vẫn chưa chấm dứt. Do đó, nếu một bên chết trước thời điểm bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực, người còn sống vẫn được coi là vợ hoặc chồng hợp pháp để hưởng thừa kế.

Khoản 2 Điều 655 Bộ luật Dân sự 2015 ghi nhận rõ trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản. Quy định này loại trừ mọi cách hiểu rằng việc nộp đơn ly hôn hay đã có quyết định sơ bộ của Tòa án đồng nghĩa với việc mất quyền thừa kế.

Đã có bản án hoặc quyết định ly hôn có hiệu lực: không còn là người thừa kế theo pháp luật

Khi bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quan hệ hôn nhân chấm dứt theo khoản 14 Điều 3 và khoản 1 Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Kể từ thời điểm này, vợ chồng không còn là vợ chồng về mặt pháp lý, nên không còn thuộc hàng thừa kế thứ nhất của nhau theo điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015.

Vì vậy, nếu một người đã ly hôn hợp pháp rồi chết sau đó, người бывн vợ hoặc chồng cũ không được hưởng thừa kế theo pháp luật đối với di sản của người đã chết. Tư cách người thừa kế chỉ còn tồn tại nếu họ được chỉ định rõ trong di chúc hợp pháp của người chết.

Thừa kế theo di chúc sau khi đã ly hôn

Quan hệ ly hôn không tước đi quyền để lại tài sản cho người cũ bằng di chúc. Nếu người để lại di sản lập di chúc hợp pháp và chỉ định rõ người đã ly hôn là người hưởng di sản, phần tài sản đó vẫn được chuyển cho họ theo ý chí của người lập di chúc. Cần phân biệt rõ thừa kế theo pháp luật với thừa kế theo di chúc để tránh nhầm lẫn khi xác định quyền hưởng di sản.

Những tình huống pháp lý thường gặp

Thứ nhất, vợ chồng ly thân nhiều năm nhưng chưa ly hôn: người còn sống vẫn có quyền thừa kế theo pháp luật nếu bên kia chết. Thứ hai, hai bên đã nộp đơn ly hôn nhưng Tòa án chưa ra quyết định hoặc bản án có hiệu lực: quyền thừa kế vẫn được giữ nguyên. Thứ ba, Tòa án đã cho ly hôn bằng bản án, quyết định có hiệu lực trước thời điểm một bên chết: người cũ không còn quyền thừa kế theo pháp luật.

Thứ tư, sau khi ly hôn, người chết vẫn để lại di chúc cho vợ hoặc chồng cũ: quyền hưởng di sản được xác lập theo di chúc nếu di chúc hợp pháp. Thứ năm, người đã ly hôn nhưng cùng đứng tên tài sản chung chưa chia: cần phân biệt phần tài sản thuộc sở hữu của người chết với phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người còn sống trước khi xác định di sản.

Ý nghĩa thực tiễn khi xác định đúng thời điểm chấm dứt hôn nhân

Trong tranh chấp thừa kế, thời điểm bản án hoặc quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật là mốc xác định quyết định quyền của người còn sống. Nếu xác định sai mốc này, việc chia di sản sẽ dẫn đến sai đối tượng thừa kế, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các đồng thừa kế khác. Do đó, khi giải quyết hồ sơ thừa kế, cần kiểm tra kỹ bản án, quyết định ly hôn và thời điểm người để lại di sản chết.

Về mặt chứng cứ, giấy chứng tử, bản án ly hôn, quyết định công nhận thuận tình ly hôn, văn bản khai nhận hoặc phân chia di sản là các tài liệu trung tâm. Chỉ khi đối chiếu đầy đủ các giấy tờ này mới có thể xác định chính xác một người là vợ, chồng hợp pháp hay đã trở thành vợ, chồng cũ tại thời điểm mở thừa kế.

Kết luận

Pháp luật Việt Nam bảo đảm quyền thừa kế của vợ hoặc chồng khi quan hệ hôn nhân vẫn còn tồn tại hợp pháp, kể cả trong giai đoạn ly thân hoặc đang giải quyết ly hôn nhưng bản án, quyết định chưa có hiệu lực. Chỉ khi ly hôn đã có hiệu lực pháp luật thì tư cách thừa kế theo pháp luật giữa hai người mới chấm dứt. Vì vậy, việc phân định đúng giữa ly thân, đang ly hôn và đã ly hôn là điều kiện tiên quyết để xác định người được hưởng di sản một cách chính xác và hợp pháp.

Tài liệu tham khảo

  • Bộ luật Dân sự 2015.
  • Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
  • Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về thừa kế.
  • Án lệ và thực tiễn xét xử liên quan đến tranh chấp thừa kế giữa vợ chồng.
  • Tài liệu nghiên cứu chuyên ngành về pháp luật thừa kế và hôn nhân gia đình.

Câu hỏi thường gặp

Đang ly thân thì vợ hoặc chồng có được hưởng thừa kế không?
Có. Nếu hôn nhân chưa chấm dứt hợp pháp, người còn sống vẫn là vợ hoặc chồng và thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015.
Đã nộp đơn ly hôn nhưng chưa có bản án có hiệu lực thì có mất quyền thừa kế không?
Không. Khi bản án hoặc quyết định ly hôn chưa có hiệu lực pháp luật, quan hệ hôn nhân vẫn còn và quyền thừa kế của vợ, chồng vẫn được bảo lưu.
Đã ly hôn rồi thì còn được hưởng di sản của người cũ không?
Không theo thừa kế pháp luật. Chỉ khi người để lại di sản lập di chúc hợp pháp chỉ định người đó hưởng tài sản thì mới được nhận di sản.
Ly thân có làm thay đổi hàng thừa kế không?
Không. Ly thân chỉ là tình trạng thực tế, không phải căn cứ pháp lý chấm dứt hôn nhân, nên không làm thay đổi hàng thừa kế.
Thời điểm nào quyết định việc còn là vợ chồng để hưởng thừa kế?
Thời điểm người để lại di sản chết là mốc quyết định. Nếu lúc đó bản án hoặc quyết định ly hôn chưa có hiệu lực, người còn sống vẫn có quyền thừa kế.