Quyền học tập của công dân và bảo đảm tiếp cận giáo dục
Phân tích cơ sở pháp lý về quyền học tập của công dân và trách nhiệm bảo đảm tiếp cận giáo dục trong pháp luật Việt Nam.
Tổng quan
Quyền học tập là một quyền hiến định, đồng thời gắn liền với nghĩa vụ của công dân trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Cùng với việc ghi nhận quyền này, pháp luật còn xác lập trách nhiệm của Nhà nước, gia đình, nhà trường và xã hội trong việc bảo đảm mọi người được tiếp cận giáo dục bình đẳng, an toàn và hiệu quả. Bài viết làm rõ nội hàm pháp lý của quyền học tập, các chủ thể có trách nhiệm bảo đảm thực hiện quyền, và những yêu cầu cơ bản của cơ chế tiếp cận giáo dục. Qua đó, bài viết góp phần hệ thống hóa nền tảng pháp lý cho việc bảo vệ quyền học tập trong thực tiễn.Khung hiến định của quyền học tập
Quyền học tập của công dân được ghi nhận trực tiếp trong Điều 39 Hiến pháp năm 2013, theo đó công dân có quyền và nghĩa vụ học tập. Quy định này xác lập vị thế đặc biệt của giáo dục trong trật tự hiến định, không chỉ là một quyền tự do cơ bản mà còn là điều kiện để phát triển con người toàn diện. Về phương diện pháp lý, quyền học tập có nội dung kép: cá nhân được bảo đảm cơ hội học tập, đồng thời có trách nhiệm tham gia học tập phù hợp với yêu cầu của pháp luật.
Hiến pháp năm 2013 còn đặt giáo dục trong định hướng chính sách quốc gia khi khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu tại khoản 1 Điều 61 Hiến pháp năm 2013. Từ đó, trách nhiệm tổ chức và bảo đảm giáo dục không dừng ở lĩnh vực quản trị hành chính thông thường mà trở thành nghĩa vụ hiến định của Nhà nước. Đây là cơ sở để xây dựng hệ thống pháp luật giáo dục theo hướng phổ cập, công bằng và bao trùm.
Nội dung pháp lý của quyền học tập
Theo khoản 1 Điều 10 Luật Giáo dục năm 2019, học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân; mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, đặc điểm cá nhân, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội và hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập. Quy định này thể hiện nguyên tắc bình đẳng trong tiếp cận giáo dục, đồng thời loại bỏ các rào cản mang tính xã hội hoặc kinh tế cản trở người học. Nội dung của quyền học tập vì thế không chỉ là được đến trường, mà còn bao gồm quyền hưởng cơ hội học tập công bằng trong toàn bộ hệ thống giáo dục.
Ở cấp độ người học, Điều 83 Luật Giáo dục năm 2019 ghi nhận nhiều quyền cụ thể như được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện; được tôn trọng; được bình đẳng về cơ hội giáo dục và học tập; được học trong môi trường an toàn, lành mạnh; và được sử dụng cơ sở vật chất, thư viện, thiết bị phục vụ học tập. Các quyền này cho thấy quyền học tập không bị giới hạn ở việc tiếp nhận kiến thức, mà bao gồm cả điều kiện vật chất, môi trường sư phạm và sự hỗ trợ thể chế cần thiết.
Trách nhiệm bảo đảm tiếp cận giáo dục
Trách nhiệm bảo đảm quyền học tập được phân bổ cho nhiều chủ thể, trong đó Nhà nước giữ vai trò trung tâm. Pháp luật giáo dục đặt ra yêu cầu tổ chức mạng lưới cơ sở giáo dục, đầu tư ngân sách, bảo đảm phổ cập và hỗ trợ nhóm yếu thế nhằm làm cho quyền học tập có khả năng thực thi thực chất. Trong logic pháp lý này, quyền học tập chỉ có ý nghĩa đầy đủ khi được gắn với cơ chế bảo đảm tiếp cận chứ không dừng ở sự thừa nhận mang tính hình thức.
Đối với trẻ em, trách nhiệm bảo đảm quyền học tập được nhấn mạnh rõ trong khoản 1 Điều 15 Luật Trẻ em năm 2016, theo đó cha mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền học tập, hoàn thành chương trình giáo dục phổ cập và tạo điều kiện theo học ở trình độ cao hơn. Quy định này cho thấy quyền học tập của trẻ em là quyền có chủ thể bảo vệ cụ thể, đồng thời là nghĩa vụ phối hợp giữa gia đình và nhà trường. Sự phối hợp đó là điều kiện thiết yếu để ngăn ngừa tình trạng bỏ học, học không đầy đủ hoặc bị gián đoạn vì hoàn cảnh kinh tế - xã hội.
Ở bình diện xã hội, trách nhiệm bảo đảm tiếp cận giáo dục còn được thực hiện thông qua việc xóa bỏ rào cản đối với người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các nhóm dễ bị tổn thương khác. Cơ chế hỗ trợ học phí, học bổng, miễn giảm chi phí học tập, bố trí trường lớp và học liệu là những công cụ pháp lý cụ thể hóa nguyên tắc bình đẳng cơ hội. Đây là biểu hiện của mô hình giáo dục lấy quyền làm trung tâm, trong đó công bằng không đồng nghĩa với đối xử giống nhau, mà là bảo đảm điều kiện phù hợp cho từng nhóm người học.
Bình đẳng cơ hội học tập và yêu cầu không phân biệt đối xử
Bình đẳng trong giáo dục là một cấu phần cốt lõi của quyền học tập. Pháp luật Việt Nam khẳng định mọi công dân đều bình đẳng về cơ hội học tập, từ đó đặt ra nghĩa vụ không phân biệt đối xử trong tuyển sinh, tổ chức dạy học, đánh giá, cấp bằng và tiếp nhận dịch vụ giáo dục. Nguyên tắc này ngăn chặn mọi hình thức loại trừ dựa trên nhân thân, giới tính, hoàn cảnh kinh tế hoặc xuất thân xã hội.
Trong thực tiễn, bình đẳng cơ hội học tập còn đòi hỏi sự thích ứng của hệ thống giáo dục với nhu cầu đa dạng của người học. Việc tổ chức các chương trình học linh hoạt, tạo điều kiện học lại, học vượt, học rút ngắn thời gian hoặc học ở độ tuổi khác với chuẩn thông thường là những biểu hiện quan trọng của tiếp cận giáo dục hiện đại. Nhờ đó, quyền học tập được hiểu theo nghĩa động, phù hợp với vòng đời học tập của công dân.
Ý nghĩa của cơ chế bảo đảm quyền học tập
Cơ chế bảo đảm quyền học tập có ý nghĩa trực tiếp đối với chất lượng nguồn nhân lực, công bằng xã hội và sự phát triển bền vững. Khi giáo dục được tiếp cận một cách công bằng, người học có cơ hội phát triển năng lực, tăng khả năng tham gia đời sống kinh tế - xã hội và thực hiện đầy đủ quyền công dân. Ngược lại, nếu thiếu cơ chế bảo đảm, quyền học tập dễ bị thu hẹp thành tuyên bố pháp lý mang tính nguyên tắc.
Về phương diện quản trị nhà nước, bảo đảm tiếp cận giáo dục còn là thước đo năng lực thực thi quyền con người. Điều này đòi hỏi sự phối hợp giữa lập pháp, hành pháp, chính quyền địa phương và các cơ sở giáo dục trong việc tổ chức dịch vụ công về giáo dục. Trong cấu trúc đó, chính sách pháp luật phải hướng đến mục tiêu giảm bất bình đẳng và mở rộng cơ hội học tập cho mọi công dân.
Kết luận
Quyền học tập là quyền hiến định gắn với nghĩa vụ học tập của công dân và được cụ thể hóa trong Luật Giáo dục, Luật Trẻ em cùng các văn bản liên quan. Trách nhiệm bảo đảm tiếp cận giáo dục thuộc về Nhà nước, gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong thiết kế và vận hành cơ chế bảo đảm quyền. Từ góc độ pháp lý, bảo vệ quyền học tập chính là bảo vệ nền tảng phát triển con người, công bằng xã hội và chất lượng của trật tự pháp quyền.
Tài liệu tham khảo
- Hiến pháp năm 2013.
- Luật Giáo dục năm 2019, số 43/2019/QH14.
- Luật Trẻ em năm 2016, số 102/2016/QH13.
- Nghị định số 57/2017/NĐ-CP quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh, hỗ trợ học tập cho trẻ em, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người.
- Nghị định số 81/2021/NĐ-CP về cơ chế thu, quản lý học phí và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập.
- Nghị định số 66/2025/NĐ-CP về chính sách cho trẻ em, học sinh, học viên vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.