Nhãn hiệu đang chờ cấp có được chuyển nhượng hoặc cấp phép sử dụng không?

Làm rõ chuyển nhượng đơn nhãn hiệu, giới hạn cấp phép sử dụng và căn cứ pháp lý hiện hành.

Tổng quan

Nhãn hiệu đang trong giai đoạn chờ cấp văn bằng bảo hộ vẫn là đối tượng của đơn đăng ký và chưa phát sinh đầy đủ quyền sở hữu đối với nhãn hiệu. Trong giai đoạn này, pháp luật sở hữu trí tuệ cho phép thực hiện việc chuyển nhượng đơn đăng ký và ghi nhận thay đổi người nộp đơn theo thủ tục tương ứng. Việc cấp phép sử dụng lại gắn với quyền đối với nhãn hiệu đã được xác lập, nên không thể hiểu giống như cấp phép đối với một quyền sở hữu đã hoàn tất. Bài viết làm rõ ranh giới pháp lý giữa chuyển nhượng đơn, chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu đã đăng ký và hợp đồng sử dụng nhãn hiệu trong thực tiễn.

Bản chất pháp lý của nhãn hiệu đang chờ cấp

Trong giai đoạn “đang chờ cấp”, nhãn hiệu mới dừng lại ở trạng thái đơn đăng ký sở hữu công nghiệp đang được thẩm định, chưa làm phát sinh đầy đủ quyền đối với nhãn hiệu theo cơ chế xác lập quyền. Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2022 và văn bản hợp nhất hiện hành áp dụng đến năm 2026. Vì vậy, cần phân biệt rõ giữa đơn đăng ký nhãn hiệu và quyền đối với nhãn hiệu đã được bảo hộ.

Từ góc độ pháp lý, đơn đăng ký là một tài sản đang trong quá trình xác lập quyền, có thể là đối tượng của một số giao dịch nhất định. Tuy nhiên, giao dịch này không đồng nghĩa với việc chuyển nhượng chính quyền đối với nhãn hiệu đã được cấp văn bằng. Sự khác biệt này quyết định trực tiếp việc đơn đang chờ cấp có được chuyển nhượng hoặc “cấp phép sử dụng” hay không.

Chuyển nhượng đối với nhãn hiệu đang chờ cấp

Pháp luật hiện hành cho phép chuyển nhượng đơn đăng ký nhãn hiệu trong thời gian đơn đang được xử lý. Theo điểm a khoản 1 Điều 139 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2022, chủ đơn có quyền chuyển nhượng đơn đăng ký quyền sở hữu công nghiệp cho tổ chức, cá nhân khác; nội dung này được hướng dẫn thi hành trong Nghị định 65/2023/NĐ-CP. Đây là căn cứ pháp lý trực tiếp khẳng định việc chuyển nhượng là hợp pháp ngay cả khi nhãn hiệu chưa được cấp văn bằng.

Tuy nhiên, việc chuyển nhượng chỉ được ghi nhận khi đáp ứng điều kiện về hình thức và nội dung theo quy định. Hồ sơ phải thể hiện rõ chủ thể chuyển nhượng, chủ thể nhận chuyển nhượng, số đơn và phạm vi chuyển nhượng; việc chuyển nhượng được Cục Sở hữu trí tuệ ghi nhận sau khi xem xét tính hợp lệ. Trong trường hợp yêu cầu chuyển nhượng được nộp sau khi đã có thông báo dự định cấp văn bằng bảo hộ, đơn còn phải được thẩm định lại và công bố nội dung chuyển nhượng theo hướng dẫn nghiệp vụ hiện hành của Cục Sở hữu trí tuệ.

Giới hạn của việc chuyển nhượng đơn

Chuyển nhượng đơn không làm thay đổi bản chất pháp lý của đối tượng đang được xem xét. Người nhận chuyển nhượng chỉ kế thừa vị trí pháp lý của người nộp đơn trong quá trình đăng ký, chứ chưa có ngay quyền độc quyền đối với nhãn hiệu. Chỉ sau khi đơn được chấp nhận và văn bằng được cấp, quyền đối với nhãn hiệu mới thực sự hình thành đầy đủ theo cơ chế bảo hộ.

Ngoài ra, giao dịch chuyển nhượng còn phải bảo đảm điều kiện không gây nhầm lẫn về nguồn gốc thương mại và không thuộc trường hợp bị hạn chế theo các quy định về chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp. Do đó, chuyển nhượng đơn là khả thi nhưng không phải là sự thay thế cho việc đã có văn bằng bảo hộ.

Có được cấp phép sử dụng nhãn hiệu đang chờ cấp không

Về mặt kỹ thuật pháp lý, “cấp phép sử dụng nhãn hiệu” là hoạt động cho phép bên khác khai thác quyền đối với nhãn hiệu đã thuộc quyền sở hữu của mình. Cơ chế này được thiết kế cho quyền đối với nhãn hiệu đã được xác lập, nên khi nhãn hiệu còn đang chờ cấp, chủ đơn chưa có đầy đủ quyền độc quyền để cấp phép theo nghĩa chặt của hợp đồng li-xăng. Nói cách khác, pháp luật không thừa nhận việc cấp phép sử dụng như một quyền khai thác hoàn chỉnh đối với một nhãn hiệu chưa được bảo hộ.

Dù vậy, trên thực tế, các bên vẫn có thể ký kết thỏa thuận hợp tác, cam kết sử dụng, hoặc hợp đồng có điều kiện liên quan đến nhãn hiệu đang nộp đơn. Khi đó, hiệu lực của việc sử dụng phải gắn với điều kiện tiên quyết là văn bằng bảo hộ được cấp hoặc bên chuyển giao trở thành chủ sở hữu hợp pháp của nhãn hiệu. Nếu chưa có văn bằng, thỏa thuận chỉ mang tính dân sự giữa các bên, không làm phát sinh ngay quyền sử dụng nhãn hiệu được pháp luật sở hữu trí tuệ bảo vệ như một li-xăng nhãn hiệu hoàn chỉnh.

Hệ quả pháp lý cần lưu ý

Nếu một bên cho phép bên khác sử dụng dấu hiệu đang chờ bảo hộ mà chưa có văn bằng, rủi ro pháp lý nằm ở chỗ quyền độc quyền chưa hình thành. Khi đó, bên nhận “cấp phép” không thể mặc nhiên viện dẫn quyền li-xăng nhãn hiệu để chống lại bên thứ ba. Vì vậy, trong giao dịch thực tiễn, cần dùng cơ chế hợp đồng có điều kiện, thỏa thuận đặt cọc quyền, hoặc điều khoản tự động chuyển sang li-xăng sau khi văn bằng được cấp.

Cách tiếp cận này phù hợp hơn với cấu trúc của Luật Sở hữu trí tuệ và giúp giảm tranh chấp về hiệu lực hợp đồng. Đồng thời, doanh nghiệp có thể bảo vệ lợi ích thương mại mà không tạo ra kỳ vọng pháp lý vượt quá tình trạng bảo hộ thực tế của nhãn hiệu.

Phân biệt ba tình huống thường gặp

Thứ nhất, chuyển nhượng đơn đăng ký nhãn hiệu là hợp pháp nếu đáp ứng điều kiện theo Điều 139 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2022. Đây là hình thức giao dịch đối với đơn, không phải đối với quyền đã được bảo hộ.

Thứ hai, chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu đã được cấp văn bằng chỉ phát sinh khi quyền sở hữu công nghiệp đã được xác lập. Khi đó, giao dịch được thực hiện trên nền tảng quyền đã hiện hữu, với phạm vi và hậu quả pháp lý đầy đủ hơn.

Thứ ba, cấp phép sử dụng nhãn hiệu đang chờ cấp không phải là cơ chế chuẩn của pháp luật sở hữu trí tuệ, vì quyền đối với nhãn hiệu chưa được xác lập. Các bên chỉ nên dùng thỏa thuận có điều kiện hoặc cam kết thương mại gắn với thời điểm cấp văn bằng.

Kết luận pháp lý

Nhãn hiệu đang chờ cấp có thể được chuyển nhượng dưới dạng chuyển nhượng đơn đăng ký theo quy định hiện hành của Luật Sở hữu trí tuệ và văn bản hướng dẫn thi hành. Ngược lại, cấp phép sử dụng nhãn hiệu theo nghĩa pháp lý đầy đủ không đặt ra đối với một nhãn hiệu chưa được cấp văn bằng, vì quyền độc quyền chưa được xác lập. Trong thực tiễn, doanh nghiệp nên tách bạch rõ giao dịch đối với đơn đăng ký và giao dịch đối với quyền đã được bảo hộ để tránh vô hiệu hoặc tranh chấp hiệu lực.

Tài liệu tham khảo

  • Luật Sở hữu trí tuệ 2005, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2022.
  • Nghị định 65/2023/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp.
  • Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022.
  • Hướng dẫn nghiệp vụ và công bố thông tin của Cục Sở hữu trí tuệ về chuyển nhượng đơn đăng ký nhãn hiệu.

Câu hỏi thường gặp

Nhãn hiệu đang nộp đơn có thể bán lại cho người khác không?
Có. Pháp luật cho phép chuyển nhượng đơn đăng ký nhãn hiệu nếu đáp ứng điều kiện và được cơ quan có thẩm quyền ghi nhận.
Chưa được cấp văn bằng thì có ký hợp đồng li-xăng nhãn hiệu được không?
Không theo nghĩa pháp lý đầy đủ. Chỉ nên ký thỏa thuận có điều kiện hoặc hợp đồng dự phòng hiệu lực sau khi văn bằng được cấp.
Người nhận chuyển nhượng đơn có trở thành chủ nhãn hiệu ngay không?
Chưa ngay. Người nhận chỉ kế thừa vị trí pháp lý của người nộp đơn, còn quyền đối với nhãn hiệu chỉ hình thành khi văn bằng được cấp.
Sau khi có thông báo dự định cấp văn bằng thì có chuyển nhượng đơn được không?
Được, nhưng đơn phải được thẩm định lại và công bố nội dung chuyển nhượng theo quy định áp dụng của Cục Sở hữu trí tuệ.