Người thừa kế có được tiếp tục khai thác thương hiệu của người đã mất không?
Giải đáp việc người thừa kế có được tiếp tục khai thác thương hiệu, căn cứ pháp lý và thủ tục cần thực hiện.
Tổng quan
Việc người thừa kế tiếp tục khai thác thương hiệu của người đã mất phụ thuộc vào việc thương hiệu đó có được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu hay không, và quyền đó đã trở thành di sản theo quy định pháp luật hay chưa. Trong pháp luật Việt Nam, quyền đối với nhãn hiệu là quyền tài sản có thể được chuyển giao, để thừa kế hoặc kế thừa khi đáp ứng điều kiện luật định. Tuy nhiên, việc “tiếp tục khai thác” không đồng nghĩa với việc đương nhiên có quyền sử dụng ngay; người thừa kế vẫn phải thực hiện các thủ tục pháp lý tương ứng để xác lập tư cách chủ thể hợp lệ. Bài viết làm rõ cơ sở pháp lý, phạm vi quyền của người thừa kế và các giới hạn cần lưu ý khi khai thác thương hiệu sau khi chủ sở hữu qua đời.Người thừa kế có được tiếp tục khai thác thương hiệu của người đã mất không?
Người thừa kế được tiếp tục khai thác thương hiệu của người đã mất nếu thương hiệu đó được gắn với quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc quyền tài sản khác thuộc di sản thừa kế. Cơ sở xác định trước hết nằm ở quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về di sản và quyền thừa kế đối với tài sản, cùng với quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2022 về quyền đăng ký, chuyển giao và thừa kế quyền đối với nhãn hiệu.
Trong thực tiễn, cần phân biệt giữa “thương hiệu” theo cách gọi thông dụng và “nhãn hiệu” theo thuật ngữ pháp lý. Chỉ khi dấu hiệu đó đã được bảo hộ hợp lệ hoặc đang trong quá trình xác lập quyền theo đúng quy định thì mới có căn cứ để chuyển dịch cho người thừa kế. Vì vậy, câu trả lời không nằm ở tên gọi thương mại, mà ở tư cách pháp lý của quyền đối với nhãn hiệu hoặc tài sản trí tuệ liên quan.
Cơ sở pháp lý về việc thừa kế quyền đối với nhãn hiệu
Theo khoản 1 Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015, cá nhân có quyền để lại di sản của mình cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Theo Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế là cá nhân, cơ quan, tổ chức đáp ứng điều kiện hưởng di sản theo quy định của pháp luật.
Đối với lĩnh vực sở hữu trí tuệ, theo khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2022, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là một loại quyền sở hữu trí tuệ được pháp luật bảo hộ. Theo khoản 6 Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2022, người có quyền đăng ký, kể cả người đã nộp đơn đăng ký, có quyền chuyển giao quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, để thừa kế hoặc kế thừa theo quy định của pháp luật với điều kiện bên nhận phải đáp ứng điều kiện đối với người có quyền đăng ký tương ứng.
Theo khoản 1 Điều 138 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2022, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được chuyển nhượng thông qua hợp đồng bằng văn bản. Theo khoản 2 Điều 139 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2022, việc chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu phải bảo đảm không gây nhầm lẫn về đặc tính, nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu. Những quy định này cho thấy quyền đối với nhãn hiệu có thể dịch chuyển từ người đã mất sang người thừa kế nhưng phải theo đúng điều kiện và thủ tục pháp luật.
Người thừa kế được khai thác đến mức nào?
Người thừa kế có thể tiếp tục sử dụng nhãn hiệu trong hoạt động kinh doanh nếu đã trở thành chủ thể có quyền hợp pháp đối với nhãn hiệu đó. Quyền khai thác bao gồm quyền gắn nhãn hiệu lên hàng hóa, dịch vụ; quyền cho phép người khác sử dụng; quyền chuyển nhượng hoặc định đoạt theo cơ chế pháp luật cho phép. Khi quyền đã được ghi nhận hợp lệ, người thừa kế bước vào vị trí pháp lý của chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu theo phần di sản tương ứng.
Tuy nhiên, nếu người chết chỉ đang dùng tên thương mại, tên gọi kinh doanh hoặc dấu hiệu nhận diện mà chưa được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu, thì việc tiếp tục sử dụng không tự động tạo thành quyền sở hữu công nghiệp có thể thừa kế. Trong trường hợp đó, người thừa kế chỉ có thể tiếp tục khai thác trong phạm vi quyền đối với doanh nghiệp, tài sản vô hình hoặc quyền tài sản liên quan khác nếu có căn cứ pháp lý cụ thể. Do đó, giá trị “thương hiệu” trong thực tế kinh doanh và giá trị pháp lý của “nhãn hiệu” không phải lúc nào cũng trùng nhau.
Điều kiện để người thừa kế tiếp tục sử dụng hợp pháp
1. Xác định đúng đối tượng quyền
Cần xác định dấu hiệu đang được khai thác là nhãn hiệu đã được cấp văn bằng bảo hộ, đơn đăng ký đang chờ xử lý hay chỉ là tên gọi thương mại. Nếu là nhãn hiệu đã đăng ký, quyền tài sản này có thể trở thành di sản. Nếu chỉ là cách gọi thương mại chưa được xác lập quyền, việc thừa kế phải xem xét theo cấu trúc tài sản khác của người chết.
2. Xác lập tư cách thừa kế
Người thừa kế phải có căn cứ hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Khi có nhiều người cùng hưởng, quyền đối với nhãn hiệu được xử lý như tài sản chung theo phần hoặc theo thỏa thuận phân chia di sản. Nếu di sản chưa chia, các đồng thừa kế phải cùng xác lập ý chí đối với việc tiếp tục khai thác, cấp phép hoặc chuyển nhượng.
3. Thực hiện thủ tục ghi nhận thay đổi chủ thể quyền
Sau khi nhận di sản, người thừa kế cần làm thủ tục ghi nhận thay đổi chủ sở hữu hoặc chủ đơn tại cơ quan có thẩm quyền về sở hữu công nghiệp. Nếu không hoàn tất thủ tục, việc sử dụng trên thực tế vẫn tiềm ẩn rủi ro tranh chấp về chủ thể quyền, đặc biệt khi phát sinh cấp phép, chuyển nhượng, gia hạn hoặc xử lý vi phạm. Trong quản trị tài sản trí tuệ, giấy tờ pháp lý luôn là căn cứ quyết định.
Những giới hạn pháp lý khi khai thác thương hiệu của người đã mất
Giới hạn quan trọng nhất là không được sử dụng nhãn hiệu theo cách làm sai lệch nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ hoặc gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Theo khoản 2 Điều 139 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2022, việc chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu phải bảo đảm không gây nhầm lẫn về đặc tính, nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ. Quy định này cũng phản ánh nguyên tắc chung rằng quyền đối với nhãn hiệu gắn liền với chức năng phân biệt thương mại và bảo vệ trật tự thị trường.
Giới hạn thứ hai là thời hạn và tình trạng bảo hộ. Nhãn hiệu được bảo hộ theo chu kỳ và phải gia hạn đúng hạn theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2022. Nếu hết thời hạn bảo hộ mà không gia hạn hoặc văn bằng bị chấm dứt hiệu lực, người thừa kế không còn căn cứ để tiếp tục khai thác với tư cách chủ sở hữu nhãn hiệu.
Giới hạn thứ ba là nghĩa vụ tôn trọng quyền của người đồng thừa kế và các bên có liên quan. Nếu nhãn hiệu là tài sản chung của nhiều người thừa kế, một cá nhân không được tự ý chuyển nhượng, cấp phép hoặc thay đổi dấu hiệu nhận diện nếu không có sự đồng ý hợp lệ theo cơ chế quản lý tài sản chung. Mọi hành vi vượt quá quyền này có thể dẫn tới tranh chấp dân sự, yêu cầu hủy giao dịch hoặc bồi thường thiệt hại.
Hướng xử lý phù hợp trong thực tiễn
Trong thực tiễn thừa kế thương hiệu, bước đầu tiên là rà soát hồ sơ pháp lý của nhãn hiệu, gồm văn bằng bảo hộ, tình trạng gia hạn, chủ thể đứng tên và các hợp đồng chuyển quyền nếu có. Bước tiếp theo là xác định hàng thừa kế, di chúc, phần di sản và sự đồng thuận giữa các đồng thừa kế. Sau đó, cần hoàn tất thủ tục ghi nhận thay đổi tại cơ quan quản lý chuyên ngành trước khi tiếp tục khai thác thương mại trên danh nghĩa chủ sở hữu mới.
Nếu thương hiệu gắn với doanh nghiệp gia đình, việc tách bạch giữa quyền sở hữu nhãn hiệu, quyền đối với doanh nghiệp và quyền điều hành là rất cần thiết. Một nhãn hiệu có thể thuộc sở hữu của cá nhân, trong khi cơ sở sản xuất, cửa hàng hoặc công ty là một pháp nhân độc lập. Vì vậy, người thừa kế phải xác định chính xác quyền nào được thừa kế, quyền nào chỉ được tiếp quản trên phương diện quản trị.
Kết luận
Người thừa kế được tiếp tục khai thác thương hiệu của người đã mất khi thương hiệu đó đã được xác lập thành quyền tài sản hợp pháp, điển hình là quyền đối với nhãn hiệu. Việc khai thác chỉ hợp pháp khi người thừa kế có căn cứ hưởng di sản, thực hiện đúng thủ tục chuyển dịch quyền và bảo đảm các điều kiện về bảo hộ, gia hạn, sử dụng và không gây nhầm lẫn. Trong mọi trường hợp, giá trị kinh doanh của thương hiệu chỉ được chuyển hóa thành quyền khai thác hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ cơ sở của Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2022.
Tài liệu tham khảo
- Bộ luật Dân sự 2015.
- Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2022.
- Nghị định 65/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ.
- Thông tư 23/2023/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp.
- Văn bản hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp liên quan đến đăng ký, chuyển nhượng và ghi nhận thay đổi chủ thể quyền.