Người thân có được rút tiền trong tài khoản của người mất năng lực hành vi không?
Phân tích điều kiện, thủ tục và căn cứ pháp lý để rút tiền tài khoản của người mất năng lực hành vi dân sự.
Tổng quan
Việc rút tiền trong tài khoản của người mất năng lực hành vi dân sự không phụ thuộc vào quan hệ huyết thống, mà phụ thuộc vào tư cách đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật. Khi chủ tài khoản đã bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, việc quản lý và giao dịch liên quan đến tài sản phải do người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật thực hiện. Đối với tài khoản thanh toán tại ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán chỉ chi trả theo yêu cầu của chủ tài khoản hoặc người đại diện hợp pháp trong các trường hợp luật định. Bài viết làm rõ điều kiện, thẩm quyền, thủ tục và rủi ro pháp lý khi người thân muốn rút tiền thay cho người mất năng lực hành vi dân sự.Cơ sở pháp lý điều chỉnh việc rút tiền thay cho người mất năng lực hành vi dân sự
Việc rút tiền trong tài khoản của người mất năng lực hành vi dân sự được điều chỉnh trước hết bởi quy định về mất năng lực hành vi dân sự, giám hộ và đại diện theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự 2015. Theo khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015, người do bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi, theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, có thể bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
Về tài sản, khoản 1 Điều 58 Bộ luật Dân sự 2015 xác định người giám hộ có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình và được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ. Trong lĩnh vực ngân hàng, điểm a khoản 1 Điều 18 Thông tư 17/2024/TT-NHNN quy định tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán chi trả theo yêu cầu của chủ tài khoản, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ tài khoản trong trường hợp chủ tài khoản là người mất năng lực hành vi dân sự.
Như vậy, người thân không được đương nhiên rút tiền chỉ vì là vợ, chồng, con, cha, mẹ hoặc anh, chị, em của chủ tài khoản. Điều quyết định là người đó đã được xác lập tư cách giám hộ hoặc đại diện theo pháp luật hợp lệ hay chưa.
Người thân có được trực tiếp rút tiền không?
Người thân chỉ được rút tiền khi đồng thời đáp ứng hai nhóm điều kiện: có tư cách pháp lý đại diện và thực hiện đúng phạm vi đại diện. Nếu chưa có quyết định của Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, chưa có căn cứ xác lập giám hộ, hoặc chưa được công nhận là người đại diện hợp pháp, ngân hàng có quyền từ chối chi trả.
Trường hợp người thân là người giám hộ đương nhiên hoặc người giám hộ được cử theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, người đó được thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ. Tuy nhiên, việc sử dụng tiền phải hướng đến nhu cầu chăm sóc, điều trị, bảo đảm đời sống và bảo toàn tài sản cho người được giám hộ, chứ không phải để phục vụ lợi ích riêng của người thân.
Trường hợp người thân không phải là người giám hộ nhưng có giấy ủy quyền hợp pháp do người có năng lực hành vi dân sự lập trước khi mất năng lực thì cần xem xét hiệu lực của ủy quyền. Khi người ủy quyền đã mất năng lực hành vi dân sự, quyền đại diện theo ủy quyền không thể tự động phát sinh để thay thế cho cơ chế giám hộ đã được pháp luật đặt ra đối với trường hợp này.
Điều kiện để được coi là người đại diện hợp pháp
Để rút tiền hợp pháp, trước hết phải có quyết định của Tòa án tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự theo khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015. Tiếp theo, phải xác định người giám hộ theo các quy định tại Điều 52, Điều 53 và Điều 54 Bộ luật Dân sự 2015 về giám hộ đương nhiên và cử giám hộ. Nếu không có người giám hộ đương nhiên, cơ quan có thẩm quyền nơi cư trú của người được giám hộ thực hiện việc cử người giám hộ theo luật.
Người giám hộ phải sử dụng tiền trong tài khoản đúng mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ. Khoản 2 Điều 58 Bộ luật Dân sự 2015 còn đặt ra yêu cầu đối với các giao dịch có giá trị lớn, theo đó việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ. Điều này có ý nghĩa đặc biệt khi số tiền trong tài khoản lớn hoặc việc rút tiền làm thay đổi đáng kể khối tài sản của người được giám hộ.
Các giao dịch giữa người giám hộ với người được giám hộ liên quan đến tài sản của người được giám hộ cũng bị hạn chế chặt chẽ theo khoản 3 Điều 58 Bộ luật Dân sự 2015. Vì vậy, người thân vừa là người giám hộ vừa là người hưởng lợi từ khoản tiền rút ra phải đặc biệt thận trọng để tránh giao dịch vô hiệu hoặc phát sinh trách nhiệm dân sự.
Thủ tục ngân hàng thường yêu cầu
Khi thực hiện rút tiền, ngân hàng thường yêu cầu xuất trình quyết định của Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, giấy tờ chứng minh tư cách người giám hộ hoặc đại diện theo pháp luật, giấy tờ tùy thân của người thực hiện giao dịch và các tài liệu liên quan đến tài khoản. Trường hợp ngân hàng áp dụng cơ chế kiểm soát rủi ro nội bộ, khách hàng còn phải chứng minh mục đích sử dụng tiền là phục vụ quyền lợi của người được giám hộ.
Trong thực tiễn, ngân hàng có thể yêu cầu thực hiện giao dịch tại chi nhánh nơi mở tài khoản, ký xác nhận, lưu hồ sơ và đối chiếu đầy đủ nhân thân. Với khoản tiền lớn, ngân hàng thường thẩm tra chặt chẽ hơn để bảo đảm giao dịch không trái quy định về giám hộ, phòng chống gian lận và bảo vệ chủ tài khoản.
Nếu người thân chỉ có quan hệ ruột thịt nhưng không có quyết định giám hộ hoặc không có giấy tờ đại diện hợp lệ, việc tự ý rút tiền dễ bị xem là giao dịch không được ủy quyền, thậm chí có thể phát sinh trách nhiệm hoàn trả và trách nhiệm pháp lý khác. Do đó, trình tự pháp lý phải được hoàn tất trước khi yêu cầu ngân hàng chi trả.
Phân biệt với trường hợp chủ tài khoản đã chết hoặc mất tích
Cần phân biệt người mất năng lực hành vi dân sự với người đã chết, bị tuyên bố đã chết hoặc mất tích. Với trường hợp chủ tài khoản đã chết, việc chi trả tiền trong tài khoản sẽ theo quy định về thừa kế và quyền của người thừa kế. Với trường hợp mất tích hoặc bị tuyên bố đã chết, căn cứ pháp lý và chủ thể có quyền yêu cầu ngân hàng chi trả hoàn toàn khác với trường hợp giám hộ.
Chính vì vậy, không thể dùng quy trình thừa kế để xử lý một người còn sống nhưng mất năng lực hành vi dân sự. Cũng không thể lấy lý do thân nhân gần gũi để thay thế cho tư cách giám hộ hoặc đại diện theo pháp luật.
Hậu quả pháp lý nếu tự ý rút tiền
Nếu người thân tự ý rút tiền mà không có tư cách đại diện hợp pháp, giao dịch có nguy cơ bị xác định là trái luật và phải hoàn trả. Trường hợp có dấu hiệu chiếm đoạt, sử dụng sai mục đích hoặc làm thiệt hại đến tài sản của người được giám hộ, người thực hiện còn phải chịu trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc hình sự tùy tính chất, mức độ vi phạm.
Ngược lại, nếu thực hiện đúng tư cách giám hộ, đúng phạm vi đại diện, đúng mục đích vì lợi ích của người được giám hộ và lưu giữ chứng từ đầy đủ, giao dịch rút tiền sẽ có cơ sở pháp lý vững chắc. Đây là cơ chế bảo vệ cả người mất năng lực hành vi dân sự lẫn người thực hiện việc chăm sóc, quản lý tài sản cho họ.
Kết luận
Người thân không đương nhiên được rút tiền trong tài khoản của người mất năng lực hành vi dân sự. Chỉ người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật hợp lệ, được xác lập theo Bộ luật Dân sự 2015 và được ngân hàng chấp nhận theo Thông tư 17/2024/TT-NHNN, mới có quyền yêu cầu chi trả. Việc rút tiền phải phục vụ lợi ích của người được giám hộ và tuân thủ chặt chẽ phạm vi đại diện, đặc biệt đối với khoản tiền lớn hoặc giao dịch làm giảm đáng kể tài sản của họ.
Tài liệu tham khảo
- Bộ luật Dân sự 2015, Điều 22, Điều 52, Điều 53, Điều 54, Điều 58.
- Thông tư 17/2024/TT-NHNN quy định về mở và sử dụng tài khoản thanh toán.
- Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, các quy định về yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
- Luật Phòng, chống rửa tiền 2022.
- Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng hiện hành.