Tạm hoãn xuất cảnh đối với người đang chấp hành án, bị khởi tố hoặc có nghĩa vụ thi hành án
Phân tích căn cứ, thẩm quyền và thời hạn tạm hoãn xuất cảnh với người bị khởi tố, đang chấp hành án, hoặc chưa thi hành nghĩa vụ.
Tổng quan
Tạm hoãn xuất cảnh là biện pháp hạn chế quyền đi lại của công dân nhằm phục vụ hoạt động tố tụng, thi hành án và bảo đảm lợi ích Nhà nước, quyền lợi của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Trong thực tiễn, biện pháp này thường được áp dụng với người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, bị can, bị cáo; người đang chấp hành án hoặc chưa chấp hành xong nghĩa vụ theo bản án, quyết định; và một số chủ thể có nghĩa vụ thi hành án khác theo luật chuyên ngành. Bài viết hệ thống hóa căn cứ pháp lý hiện hành, chủ thể có thẩm quyền, thời hạn áp dụng và các trường hợp được giải tỏa. Qua đó, bài viết giúp nhận diện rõ khi nào việc xuất cảnh bị tạm hoãn và cách xử lý trong từng nhóm trường hợp.Khái quát về tạm hoãn xuất cảnh
Tạm hoãn xuất cảnh là biện pháp ngăn chặn hoặc biện pháp bảo đảm do cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng để hạn chế việc rời khỏi lãnh thổ Việt Nam trong một thời gian nhất định. Biện pháp này thường xuất hiện trong hai nhóm tình huống: phục vụ giải quyết vụ án hình sự và bảo đảm thi hành án, thi hành nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ khác theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
Về bản chất, tạm hoãn xuất cảnh không phải là hình phạt mà là biện pháp tố tụng hoặc biện pháp bảo đảm thi hành. Việc áp dụng phải dựa trên căn cứ luật định, đúng thẩm quyền và trong thời hạn được pháp luật cho phép.
Các trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh do liên quan đến tố tụng hình sự
Theo khoản 1 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự 2026, có thể tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố khi qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ; đồng thời áp dụng đối với bị can, bị cáo. Quy định này cho thấy trọng tâm của biện pháp là bảo đảm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử không bị cản trở.
Thẩm quyền quyết định thuộc những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự 2026, đồng thời Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cũng có quyền quyết định tạm hoãn xuất cảnh. Đối với trường hợp người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, quyết định tạm hoãn xuất cảnh phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trước khi thi hành theo khoản 2 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự 2026.
Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không được quá thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2026. Riêng đối với người bị kết án phạt tù, thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù theo khoản 3 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự 2026.
Tạm hoãn xuất cảnh đối với người đang chấp hành án hoặc có nghĩa vụ thi hành án
Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, người phải thi hành án chưa thực hiện xong nghĩa vụ theo bản án, quyết định thì có thể bị tạm hoãn xuất cảnh theo khoản 1 Điều 70 Luật Thi hành án dân sự 2025. Đây là cơ sở pháp lý trực tiếp để ngăn việc đương sự rời khỏi Việt Nam khi việc xuất cảnh có thể ảnh hưởng đến khả năng thi hành án.
Quy định này bao quát các nghĩa vụ về tiền, tài sản và các nghĩa vụ dân sự khác phải thi hành theo bản án, quyết định đã có hiệu lực. Tạm hoãn xuất cảnh được đặt ra khi nghĩa vụ chưa hoàn thành, không phụ thuộc vào việc người phải thi hành án đã từng bị xử lý trong tố tụng hình sự hay chưa.
Các trường hợp không áp dụng tạm hoãn xuất cảnh trong thi hành án dân sự
Luật Thi hành án dân sự 2025 xác định một số ngoại lệ không bị tạm hoãn xuất cảnh dù đang có nghĩa vụ thi hành án. Cụ thể, người phải thi hành nghĩa vụ về tiền, tài sản mà có đủ tài sản để thực hiện nghĩa vụ và đồng ý để cơ quan thi hành án dân sự giao, xử lý tài sản để thi hành án, đồng thời đã ủy quyền cho người khác thay mặt mình giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản đó thì không thuộc trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh theo quy định tại khoản 1 Điều 70 Luật Thi hành án dân sự 2025.
Ngoài ra, trường hợp nghĩa vụ thi hành án đã được chuyển giao theo quy định của luật; trường hợp người phải thi hành án bị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định dẫn độ theo quy định của Luật Dẫn độ; và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật cũng không áp dụng tạm hoãn xuất cảnh. Quy định này cho thấy pháp luật ưu tiên tính cần thiết và tương xứng khi hạn chế quyền xuất cảnh.
Quan hệ giữa nghĩa vụ thi hành án và biện pháp bảo đảm xuất cảnh
Đối với người phải thi hành án, tạm hoãn xuất cảnh là biện pháp bảo đảm nhằm duy trì sự hiện diện của đương sự trong quá trình xác minh điều kiện thi hành án, kê biên, xử lý tài sản, thu hồi tiền, tài sản hoặc hoàn tất các nghĩa vụ khác. Khi nghĩa vụ chưa được thực hiện xong, cơ quan có thẩm quyền có căn cứ để áp dụng biện pháp này nhằm ngăn chặn hành vi trốn tránh thi hành án.
Việc áp dụng phải đặt trong mối liên hệ với tính chất của nghĩa vụ và khả năng thực hiện nghĩa vụ. Nếu nghĩa vụ đã được thanh toán, đã được bảo đảm bằng tài sản phù hợp hoặc thuộc trường hợp pháp luật loại trừ, quyết định tạm hoãn xuất cảnh phải được giải tỏa kịp thời.
Chủ thể có thẩm quyền và trình tự áp dụng
Trong tố tụng hình sự, thẩm quyền thuộc các chủ thể được giao trong khoản 1 Điều 113 và khoản 2 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự 2026. Trong thi hành án dân sự, thẩm quyền áp dụng, gia hạn, hủy bỏ, giải tỏa phải căn cứ Luật Thi hành án dân sự 2025 và văn bản hướng dẫn đang có hiệu lực; trình tự thủ tục cụ thể do pháp luật về xuất cảnh, nhập cảnh và văn bản hướng dẫn của Bộ Công an điều chỉnh.
Về nguyên tắc, quyết định tạm hoãn xuất cảnh phải nêu rõ căn cứ pháp lý, đối tượng, thời hạn và cơ quan tổ chức thực hiện. Khi căn cứ áp dụng không còn, cơ quan đã ban hành quyết định phải thực hiện giải tỏa hoặc hủy bỏ theo đúng thẩm quyền.
Hệ quả pháp lý và cách xử lý khi bị tạm hoãn xuất cảnh
Khi đã có quyết định tạm hoãn xuất cảnh, đương sự không được làm thủ tục xuất cảnh trong thời gian quyết định còn hiệu lực. Nếu cần xuất cảnh vì lý do chính đáng, việc giải quyết phải đi theo hướng chấm dứt căn cứ áp dụng biện pháp, hoàn thành nghĩa vụ hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét giải tỏa theo đúng quy định.
Trong thực tiễn, việc chủ động phối hợp với cơ quan tiến hành tố tụng hoặc cơ quan thi hành án để nộp đủ nghĩa vụ, cung cấp tài liệu chứng minh đã hoàn thành nghĩa vụ và đề nghị giải tỏa là cách thức xử lý trực tiếp, đúng trình tự. Nếu biện pháp được áp dụng không đúng căn cứ hoặc vượt thẩm quyền, người bị áp dụng có quyền khiếu nại, kiến nghị theo thủ tục pháp luật quy định.
Kết luận
Tạm hoãn xuất cảnh được áp dụng khi cần bảo đảm hoạt động tố tụng hình sự hoặc bảo đảm thi hành án, đặc biệt đối với người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, bị can, bị cáo và người chưa thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án. Căn cứ, thẩm quyền và thời hạn phải được xác định chặt chẽ theo luật hiện hành. Do đó, việc xác định đúng nhóm chủ thể, đúng căn cứ và đúng thời điểm giải tỏa có ý nghĩa quyết định đối với tính hợp pháp của biện pháp này.
Tài liệu tham khảo
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2026, Điều 124 và Điều 113.
- Luật Thi hành án dân sự 2025, Điều 70.
- Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2023.
- Nghị định 152/2026/NĐ-CP về thi hành Luật Thi hành án dân sự 2025.
- Thông tư 71/2026/TT-BCA hướng dẫn tạm hoãn xuất cảnh, chưa cho nhập cảnh.