Lương thử việc thấp hơn mức lương tối thiểu vùng có đúng luật không?
Giải đáp lương thử việc thấp hơn lương tối thiểu vùng có đúng luật không theo Bộ luật Lao động 2019 và Nghị định 74/2024/NĐ-CP.
Tổng quan
Tiền lương trong thời gian thử việc là vấn đề thường phát sinh tranh chấp trong quan hệ lao động, nhất là khi người sử dụng lao động áp dụng mức thấp hơn lương tối thiểu vùng. Pháp luật lao động hiện hành đặt ra đồng thời hai giới hạn: mức lương thử việc do các bên thỏa thuận và mức sàn tối thiểu của tiền lương theo công việc hoặc chức danh. Bài viết làm rõ khi nào lương thử việc thấp hơn lương tối thiểu vùng là hợp pháp, khi nào là vi phạm, đồng thời chỉ ra căn cứ pháp lý và hậu quả pháp lý liên quan. Nội dung phù hợp với nhu cầu tra cứu thực tiễn của người lao động, doanh nghiệp và người làm công tác nhân sự.Khái niệm pháp lý về lương thử việc và lương tối thiểu vùng
Trong quan hệ lao động, thử việc là giai đoạn hai bên đánh giá sự phù hợp trước khi xác lập quan hệ lao động chính thức. Tiền lương trong thời gian này không được tự do ấn định tùy ý mà phải tuân theo khung pháp luật về tiền lương. Hai quy định trung tâm cần xem xét là mức lương thử việc và mức lương tối thiểu vùng.
Về nguyên tắc, theo khoản 1 Điều 90 Bộ luật Lao động 2019, tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Đồng thời, theo khoản 1 Điều 91 Bộ luật Lao động 2019, mức lương theo công việc hoặc chức danh không được thấp hơn mức lương tối thiểu. Cùng với đó, mức lương tối thiểu vùng hiện hành được quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 74/2024/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/7/2024 và được áp dụng trong năm 2026.
Lương thử việc thấp hơn lương tối thiểu vùng có đúng luật không?
Câu trả lời là có trường hợp đúng luật, có trường hợp vi phạm. Pháp luật cho phép lương thử việc thấp hơn lương đang áp dụng cho công việc chính thức, nhưng không cho phép thấp hơn ngưỡng tối thiểu do luật định. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 26 Bộ luật Lao động 2019, tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.
Vì vậy, nếu mức lương của công việc đó bằng mức lương tối thiểu vùng thì lương thử việc tối thiểu phải bằng 85% của mức tối thiểu vùng. Trường hợp này, tiền lương thử việc có thể thấp hơn lương tối thiểu vùng và vẫn hợp pháp, miễn là không thấp hơn 85% mức lương của công việc đó. Ngược lại, nếu doanh nghiệp thỏa thuận lương thử việc thấp hơn 85% mức lương của công việc hoặc thấp hơn mức sàn tối thiểu tương ứng, thỏa thuận đó trái luật.
Điều kiện để lương thử việc thấp hơn lương tối thiểu vùng vẫn hợp pháp
Thứ nhất, mức lương của công việc hoặc chức danh làm căn cứ so sánh phải được xác định rõ trong thỏa thuận thử việc và hợp đồng lao động dự kiến. Thứ hai, mức lương thử việc phải đạt tối thiểu 85% của mức lương công việc đó theo khoản 1 Điều 26 Bộ luật Lao động 2019. Thứ ba, sau khi hết thời gian thử việc, tiền lương chính thức phải tuân thủ mức lương tối thiểu vùng theo khoản 1 Điều 91 Bộ luật Lao động 2019 và khoản 1 Điều 3 Nghị định 74/2024/NĐ-CP.
Ví dụ, nếu mức lương chính thức của một vị trí là 10.000.000 đồng/tháng thì lương thử việc tối thiểu là 8.500.000 đồng/tháng. Mức 8.500.000 đồng này vẫn có thể thấp hơn lương tối thiểu vùng ở một địa bàn nhất định, nhưng vẫn hợp pháp vì đáp ứng đúng tỷ lệ 85% của mức lương công việc. Trái lại, nếu mức lương chính thức chỉ bằng mức tối thiểu vùng thì doanh nghiệp không được trả thử việc thấp hơn 85% của mức tối thiểu vùng.
Trường hợp nào là vi phạm pháp luật?
Vi phạm xảy ra khi doanh nghiệp trả lương thử việc thấp hơn 85% mức lương của công việc đó theo khoản 1 Điều 26 Bộ luật Lao động 2019. Vi phạm cũng phát sinh khi doanh nghiệp xác định mức lương công việc thấp hơn mức lương tối thiểu vùng, vì mức lương theo công việc hoặc chức danh không được thấp hơn mức lương tối thiểu theo khoản 1 Điều 91 Bộ luật Lao động 2019. Trong thực tiễn, hai lỗi này thường đi kèm, nhất là khi doanh nghiệp chỉ ghi mức lương thử việc mà không xác định rõ mức lương công việc làm căn cứ.
Ngoài ra, nếu hợp đồng hoặc thỏa thuận thử việc quy định thời gian thử việc vượt quá giới hạn luật định, hoặc tiếp tục kéo dài thử việc sau khi đã hết thời hạn, doanh nghiệp cũng vi phạm quy định về thử việc. Về bản chất, thời gian thử việc là giai đoạn ngoại lệ, nên mọi cách áp dụng bất lợi cho người lao động đều phải được đối chiếu chặt chẽ với quy định bắt buộc của pháp luật lao động.
Mức lương tối thiểu vùng hiện hành năm 2026
Hiện nay, mức lương tối thiểu vùng được áp dụng theo Nghị định 74/2024/NĐ-CP. Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 74/2024/NĐ-CP, mức lương tối thiểu tháng là: vùng I là 4.960.000 đồng; vùng II là 4.410.000 đồng; vùng III là 3.860.000 đồng; vùng IV là 3.450.000 đồng. Đây là mức sàn áp dụng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động kể từ ngày 01/7/2024 và vẫn là căn cứ áp dụng trong năm 2026.
Trong xác định tính hợp pháp của lương thử việc, cần phân biệt rõ giữa lương thử việc và mức lương công việc. Pháp luật không bắt buộc lương thử việc phải bằng lương tối thiểu vùng, nhưng bắt buộc tiền lương chính thức của công việc phải không thấp hơn mức tối thiểu vùng, còn lương thử việc phải đạt ít nhất 85% mức lương công việc đó.
Hậu quả pháp lý khi trả lương thử việc trái luật
Khi trả lương thử việc thấp hơn mức luật cho phép, người sử dụng lao động phải điều chỉnh và thanh toán phần chênh lệch cho người lao động. Đồng thời, hành vi vi phạm quy định về tiền lương có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo pháp luật về lao động và xử phạt hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Mức xử phạt cụ thể phụ thuộc tính chất hành vi, số lượng người lao động bị vi phạm và thời điểm áp dụng văn bản xử phạt hiện hành.
Về phương diện tranh chấp lao động, người lao động có quyền yêu cầu doanh nghiệp trả đủ phần lương còn thiếu, cung cấp căn cứ tính lương, và yêu cầu giải quyết qua cơ chế khiếu nại hoặc tranh chấp lao động theo trình tự luật định. Doanh nghiệp vì vậy cần thiết kế thỏa thuận thử việc rõ ràng, minh bạch và phù hợp mức lương tối thiểu để hạn chế rủi ro pháp lý.
Kết luận
Lương thử việc không mặc nhiên phải bằng mức lương tối thiểu vùng. Quy định đúng là lương thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng phải đạt ít nhất 85% mức lương của công việc đó theo khoản 1 Điều 26 Bộ luật Lao động 2019, trong khi mức lương của công việc hoặc chức danh không được thấp hơn lương tối thiểu vùng theo khoản 1 Điều 91 Bộ luật Lao động 2019 và khoản 1 Điều 3 Nghị định 74/2024/NĐ-CP. Do đó, lương thử việc thấp hơn lương tối thiểu vùng vẫn có thể đúng luật nếu đáp ứng đủ điều kiện pháp lý nêu trên.
Tài liệu tham khảo
- Bộ luật Lao động 2019.
- Nghị định 74/2024/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.
- Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
- Cổng thông tin văn bản quy phạm pháp luật và Công báo Chính phủ về văn bản hiện hành.