Trách nhiệm phản hồi kiến nghị của cử tri của đại biểu Quốc hội
Làm rõ trách nhiệm pháp lý của đại biểu Quốc hội trong việc tiếp nhận, chuyển, giám sát và phản hồi kiến nghị của cử tri.
Tổng quan
Kiến nghị của cử tri là một kênh thể hiện trực tiếp ý chí, nguyện vọng và yêu cầu giám sát của Nhân dân đối với hoạt động nhà nước. Trong khuôn khổ pháp luật hiện hành, đại biểu Quốc hội không chỉ có trách nhiệm tiếp nhận mà còn phải chuyển, đôn đốc, theo dõi và giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri. Nghĩa vụ phản hồi này được đặt trong cơ chế tiếp xúc cử tri, tổng hợp ý kiến và giám sát giải quyết kiến nghị, qua đó bảo đảm tính đại diện thực chất của đại biểu Quốc hội. Bài viết làm rõ cơ sở pháp lý, nội dung trách nhiệm, chủ thể có nghĩa vụ trả lời và ý nghĩa pháp lý của cơ chế này.Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm phản hồi kiến nghị của cử tri hay không?
Có. Theo khoản 2 Điều 43 Luật Tổ chức Quốc hội 2014, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm thường xuyên tiếp xúc cử tri, thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, kiến nghị của cử tri với Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan. Cùng với đó, theo khoản 2 Điều 47 Luật Tổ chức Quốc hội 2014, khi nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, đại biểu Quốc hội phải nghiên cứu, kịp thời chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, đồng thời thông báo cho người kiến nghị biết, đôn đốc, theo dõi và giám sát việc giải quyết.
Như vậy, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội không dừng ở việc “ghi nhận” ý kiến cử tri mà bao gồm cả việc phản hồi theo đúng quy trình pháp luật. Trong ngữ cảnh pháp lý, “phản hồi” được hiểu theo nghĩa rộng: tiếp nhận, chuyển đúng thẩm quyền, thông báo kết quả xử lý và giám sát việc giải quyết đến cùng. Đây là nghĩa vụ gắn với vị trí đại biểu nhân dân, không phải hoạt động mang tính thiện chí đơn thuần.
Cơ sở pháp lý điều chỉnh trách nhiệm của đại biểu Quốc hội
Khung pháp lý về vấn đề này được hình thành từ nhiều văn bản đang có hiệu lực. Trọng tâm là Luật Tổ chức Quốc hội 2014, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015, và Nghị quyết liên tịch số 72/2025/NQLT/UBTVQH15-CP-ĐCTUBTWMTTQVN quy định chi tiết việc tổ chức tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
Theo điểm c khoản 1 Điều 14 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015, đại biểu Quốc hội tham gia giám sát việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ở trung ương theo phân công của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; đồng thời phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh giám sát việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri thuộc thẩm quyền ở địa phương. Quy định này cho thấy trách nhiệm phản hồi không tách rời chức năng giám sát của đại biểu Quốc hội.
Theo khoản 1 Điều 2 Nghị quyết liên tịch số 72/2025/NQLT/UBTVQH15-CP-ĐCTUBTWMTTQVN, việc tiếp xúc cử tri là một cơ chế chính thức để đại biểu Quốc hội báo cáo, trao đổi, lắng nghe và tiếp nhận kiến nghị của cử tri. Theo quy định này, nội dung tiếp xúc cử tri còn bao gồm việc báo cáo kết quả giải quyết và trả lời kiến nghị của cử tri, qua đó tạo thành một chu trình khép kín giữa tiếp nhận, xử lý và phản hồi.
Nội dung trách nhiệm phản hồi của đại biểu Quốc hội
1. Tiếp nhận và phân loại kiến nghị
Đại biểu Quốc hội phải lắng nghe, ghi nhận và xác định đúng tính chất của kiến nghị. Kiến nghị thuộc thẩm quyền nào thì được chuyển đến đúng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết theo khoản 2 Điều 47 Luật Tổ chức Quốc hội 2014. Việc phân loại đúng giúp bảo đảm kiến nghị không bị chuyển vòng, kéo dài hoặc xử lý sai thẩm quyền.
2. Chuyển kiến nghị và thông báo cho cử tri
Sau khi tiếp nhận, đại biểu Quốc hội có nghĩa vụ kịp thời chuyển kiến nghị đến nơi có thẩm quyền và thông báo cho người kiến nghị biết theo khoản 2 Điều 47 Luật Tổ chức Quốc hội 2014. Nghĩa vụ thông báo là phần cốt lõi của trách nhiệm phản hồi, vì cử tri có quyền biết kiến nghị của mình đang được xử lý ra sao, do cơ quan nào giải quyết và trong phạm vi nào.
3. Đôn đốc, theo dõi và giám sát việc giải quyết
Đại biểu Quốc hội không chấm dứt trách nhiệm sau khi chuyển kiến nghị. Theo khoản 2 Điều 47 Luật Tổ chức Quốc hội 2014, đại biểu còn phải đôn đốc, theo dõi và giám sát việc giải quyết. Đây là điểm thể hiện rõ chức năng đại diện và giám sát của đại biểu Quốc hội, đồng thời ngăn ngừa tình trạng kiến nghị bị “chuyển đi rồi để đó”.
4. Báo cáo lại với cử tri tại hoạt động tiếp xúc cử tri
Theo Nghị quyết liên tịch số 72/2025/NQLT/UBTVQH15-CP-ĐCTUBTWMTTQVN, kết quả giải quyết và trả lời kiến nghị của cử tri là một trong những nội dung đại biểu Quốc hội báo cáo, trao đổi tại hội nghị tiếp xúc cử tri. Điều này xác lập nghĩa vụ phản hồi hai chiều: cử tri kiến nghị và đại biểu phải báo cáo lại kết quả xử lý bằng thông tin xác thực, có căn cứ.
Chủ thể nào có nghĩa vụ trả lời kiến nghị của cử tri?
Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm chuyển và theo dõi việc giải quyết kiến nghị, nhưng chủ thể trực tiếp trả lời kiến nghị là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết nội dung kiến nghị đó. Theo cơ chế giám sát được quy định tại Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015, đại biểu Quốc hội tham gia giám sát việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri; còn nội dung trả lời thuộc về cơ quan hữu quan theo phân công, thẩm quyền pháp luật.
Do đó, cần phân biệt giữa nghĩa vụ phản hồi của đại biểu Quốc hội và nghĩa vụ trả lời của cơ quan có thẩm quyền. Đại biểu Quốc hội không thay thế cơ quan hành chính, tư pháp hay cơ quan chuyên môn trong việc giải quyết nội dung kiến nghị, nhưng phải bảo đảm kiến nghị được tiếp nhận, chuyển đúng nơi, theo dõi tiến độ và phản ánh kết quả đến cử tri.
Ý nghĩa pháp lý của trách nhiệm phản hồi
Trách nhiệm phản hồi của đại biểu Quốc hội góp phần củng cố tính đại diện của chế định đại biểu dân cử. Khi cử tri nhận được phản hồi đầy đủ, hoạt động đại biểu trở nên minh bạch, trách nhiệm giải trình được tăng cường và niềm tin vào cơ chế dân chủ đại diện được củng cố. Đồng thời, cơ chế này tạo áp lực pháp lý đối với các cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết kiến nghị đúng thời hạn và đúng nội dung.
Ở bình diện quản trị công, phản hồi kiến nghị cử tri là kênh thu nhận thông tin từ thực tiễn rất quan trọng. Các vấn đề phát sinh từ đời sống xã hội, kinh tế, quản lý nhà nước được chuyển hóa thành dữ liệu giám sát, phục vụ hoạt động lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Vì vậy, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực này có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi giao tiếp hành chính thông thường.
Kết luận
Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm phản hồi kiến nghị của cử tri theo nghĩa pháp lý đầy đủ, bao gồm tiếp nhận, chuyển đúng thẩm quyền, thông báo cho người kiến nghị, đôn đốc, theo dõi và giám sát việc giải quyết. Cơ sở pháp lý trực tiếp nằm ở khoản 2 Điều 47 và khoản 2 Điều 43 Luật Tổ chức Quốc hội 2014, cùng điểm c khoản 1 Điều 14 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015, được cụ thể hóa bởi Nghị quyết liên tịch số 72/2025/NQLT/UBTVQH15-CP-ĐCTUBTWMTTQVN. Đây là một nghĩa vụ pháp định, phản ánh bản chất đại diện và giám sát của đại biểu Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền.
Tài liệu tham khảo
- Luật Tổ chức Quốc hội 2014.
- Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015.
- Nghị quyết liên tịch số 72/2025/NQLT/UBTVQH15-CP-ĐCTUBTWMTTQVN quy định chi tiết việc tổ chức tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
- Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015.
- Các tài liệu hướng dẫn và công bố chính thức về hoạt động tiếp xúc cử tri, giải quyết kiến nghị cử tri của cơ quan có thẩm quyền.