Có thể đồng thời phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại không?

Phân tích khi nào được đồng thời phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại theo BLDS 2015 và Luật Thương mại 2005.

Tổng quan

Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại là hai chế tài phổ biến trong pháp luật hợp đồng Việt Nam, nhưng phạm vi áp dụng không hoàn toàn giống nhau. Vấn đề đặt ra là khi một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, bên kia có được yêu cầu đồng thời cả hai chế tài hay không. Câu trả lời phụ thuộc vào loại hợp đồng, thỏa thuận của các bên và quy định chuyên ngành đang có hiệu lực. Bài viết làm rõ cơ sở pháp lý hiện hành và cách áp dụng trong thực tiễn hợp đồng dân sự, thương mại.

Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại là hai chế tài độc lập

Trong pháp luật hợp đồng Việt Nam, phạt vi phạm là khoản tiền do bên vi phạm nghĩa vụ phải trả theo thỏa thuận của các bên. Theo khoản 1 Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015, phạt vi phạm phát sinh từ sự thỏa thuận, không phải từ ý chí đơn phương của bên bị vi phạm. Trong khi đó, bồi thường thiệt hại nhằm bù đắp tổn thất thực tế do hành vi vi phạm gây ra, được xác định theo mức thiệt hại chứng minh được và quan hệ nhân quả giữa vi phạm với thiệt hại.

Hai chế tài này có bản chất khác nhau. Phạt vi phạm mang tính chế tài thỏa thuận, còn bồi thường thiệt hại mang tính khắc phục hậu quả. Vì vậy, việc có được áp dụng đồng thời hay không phải được xem xét theo quy định của từng loại quan hệ hợp đồng và điều khoản hợp đồng cụ thể.

Nguyên tắc chung trong hợp đồng dân sự

Đối với hợp đồng dân sự, khoản 3 Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phạt vi phạm vừa bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm chỉ phải chịu phạt vi phạm. Quy định này thể hiện nguyên tắc rất rõ: muốn yêu cầu đồng thời hai chế tài, phải có thỏa thuận cụ thể.

Nói cách khác, nếu hợp đồng dân sự chỉ ghi nhận điều khoản phạt vi phạm mà không đề cập việc tiếp tục bồi thường thiệt hại, thì bên bị vi phạm không mặc nhiên được yêu cầu cả hai. Ngược lại, khi hợp đồng đã có thỏa thuận rõ rằng bên vi phạm phải vừa chịu phạt vừa bồi thường, bên bị vi phạm được yêu cầu đồng thời nếu có đủ căn cứ về vi phạm và thiệt hại thực tế.

Quy định trong hợp đồng thương mại

Trong hoạt động thương mại, Luật Thương mại 2005 cho phép cách tiếp cận rộng hơn. Theo khoản 2 Điều 307 Luật Thương mại 2005, trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp luật này có quy định khác. Đây là quy định quan trọng vì xác lập nguyên tắc đồng thời áp dụng hai chế tài khi có thỏa thuận phạt vi phạm.

Đồng thời, Điều 302 Luật Thương mại 2005 xác định bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm; giá trị bồi thường bao gồm tổn thất thực tế, trực tiếp và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm. Như vậy, trong thương mại, chỉ cần có thỏa thuận phạt vi phạm, bên bị vi phạm có thể yêu cầu cả phạt và bồi thường nếu đáp ứng điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường.

Điều kiện để được yêu cầu bồi thường thiệt hại

Dù là hợp đồng dân sự hay thương mại, bồi thường thiệt hại không tự động phát sinh chỉ vì có vi phạm hợp đồng. Với hợp đồng thương mại, khoản 1 Điều 303 Luật Thương mại 2005 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế, và hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Đây là ba điều kiện cốt lõi phải được chứng minh đầy đủ.

Trong thực tiễn, bên yêu cầu bồi thường cần chứng cứ về thiệt hại, mức thiệt hại, và mối liên hệ trực tiếp giữa hành vi vi phạm với thiệt hại đó. Nếu không chứng minh được thiệt hại thực tế, yêu cầu bồi thường khó được chấp nhận, dù điều khoản phạt vi phạm vẫn có thể được áp dụng nếu hợp đồng có thỏa thuận hợp lệ.

Khi nào được yêu cầu đồng thời cả hai chế tài?

Có thể khẳng định: được yêu cầu đồng thời phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại khi pháp luật hoặc hợp đồng cho phép. Trong hợp đồng thương mại, khoản 2 Điều 307 Luật Thương mại 2005 là căn cứ trực tiếp cho phép áp dụng đồng thời khi đã có thỏa thuận phạt vi phạm. Trong hợp đồng dân sự, khoản 3 Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015 đòi hỏi phải có thỏa thuận rõ ràng về việc vừa phạt vừa bồi thường; nếu không có thỏa thuận này thì chỉ áp dụng phạt vi phạm.

Vì vậy, điểm mấu chốt không nằm ở việc bên vi phạm đã gây thiệt hại hay chưa, mà nằm ở loại hợp đồng và nội dung điều khoản chế tài. Hợp đồng thương mại có lợi thế pháp lý hơn cho bên bị vi phạm khi muốn cộng gộp hai chế tài; hợp đồng dân sự thì chặt chẽ hơn về yêu cầu thỏa thuận.

Lưu ý khi soạn thảo và tranh chấp hợp đồng

Để tránh tranh cãi, điều khoản chế tài nên được soạn rõ theo hướng tách bạch giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Nếu mong muốn áp dụng đồng thời, điều khoản nên ghi nhận minh bạch rằng bên vi phạm phải chịu phạt vi phạm và vẫn phải bồi thường toàn bộ thiệt hại phát sinh. Cách diễn đạt rõ ràng giúp giảm rủi ro bị hiểu là chỉ cho phép một trong hai chế tài.

Đối với hợp đồng thương mại, cũng cần lưu ý giới hạn pháp luật chuyên ngành về mức phạt trong những trường hợp luật có quy định riêng. Khi phát sinh tranh chấp, việc thu thập chứng cứ về vi phạm, thiệt hại và quan hệ nhân quả là điều kiện quyết định để yêu cầu bồi thường được chấp nhận.

Kết luận

Pháp luật Việt Nam cho phép yêu cầu đồng thời phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, nhưng không áp dụng một cách tuyệt đối cho mọi hợp đồng. Trong hợp đồng thương mại, chỉ cần có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu cả hai theo khoản 2 Điều 307 Luật Thương mại 2005. Trong hợp đồng dân sự, phải có thỏa thuận rõ về việc vừa phạt vừa bồi thường theo khoản 3 Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015. Do đó, câu trả lời chuẩn xác là: có, nhưng phải đúng căn cứ pháp luật và đúng nội dung thỏa thuận của hợp đồng.

Tài liệu tham khảo

  • Bộ luật Dân sự 2015.
  • Luật Thương mại 2005.
  • Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.
  • Các tài liệu bình luận và hướng dẫn áp dụng pháp luật về chế tài hợp đồng trong thương mại.

Câu hỏi thường gặp

Khi nào được vừa phạt vi phạm vừa bồi thường thiệt hại?
Được khi hợp đồng hoặc luật chuyên ngành cho phép; trong thương mại, chỉ cần có thỏa thuận phạt vi phạm là có thể yêu cầu cả hai nếu đủ căn cứ bồi thường.
Hợp đồng dân sự có bắt buộc phải ghi rõ mới được yêu cầu cả hai không?
Có. Theo khoản 3 Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015, nếu không thỏa thuận rõ thì chỉ áp dụng phạt vi phạm.
Hợp đồng thương mại có khác gì hợp đồng dân sự về chế tài này?
Có. Luật Thương mại 2005 cho phép áp dụng đồng thời phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại khi có thỏa thuận phạt vi phạm.
Có phải có thiệt hại thực tế mới được phạt vi phạm không?
Không. Phạt vi phạm phát sinh theo thỏa thuận; còn bồi thường thiệt hại phải chứng minh có thiệt hại thực tế và quan hệ nhân quả.