Cổ đông sáng lập có được bán cổ phần ngay sau khi thành lập không?

Phân tích quy định về việc cổ đông sáng lập chuyển nhượng cổ phần trong 03 năm đầu theo Luật Doanh nghiệp 2020.

Tổng quan

Việc cổ đông sáng lập chuyển nhượng cổ phần ngay sau khi công ty được thành lập không bị cấm tuyệt đối, nhưng bị giới hạn chặt chẽ trong 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Trong thời hạn này, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng tự do cho cổ đông sáng lập khác; nếu chuyển cho người không phải là cổ đông sáng lập thì phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận. Sau thời hạn 03 năm, các hạn chế này được gỡ bỏ đối với cổ phần phổ thông theo luật định.

Cổ đông sáng lập có được bán cổ phần ngay sau khi thành lập không?

Trong công ty cổ phần, cổ đông sáng lập không được tự do bán cổ phần phổ thông ngay sau khi công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Cơ chế pháp lý hiện hành đặt ra một thời hạn hạn chế là 03 năm kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, nhằm bảo đảm sự ổn định về cơ cấu sở hữu và quản trị trong giai đoạn đầu vận hành doanh nghiệp theo khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020.

Vì vậy, câu trả lời chính xác là: không được bán tự do ngay sau khi thành lập, nhưng vẫn được chuyển nhượng trong phạm vi luật cho phép. Việc chuyển nhượng trong giai đoạn này phải tuân theo chủ thể nhận chuyển nhượng và thủ tục biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông, nếu người nhận không phải là cổ đông sáng lập theo khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020.

Cơ sở pháp lý điều chỉnh việc chuyển nhượng của cổ đông sáng lập

Quy định trọng tâm nằm tại khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020. Theo đó, trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được tự do chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác. Chỉ khi chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập thì mới phải có sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông.

Quy định này cho thấy pháp luật không coi việc “bán cổ phần ngay sau khi thành lập” là hành vi bị cấm tuyệt đối. Tuy nhiên, quyền chuyển nhượng của cổ đông sáng lập trong 03 năm đầu bị giới hạn bởi điều kiện pháp lý cụ thể; do đó, chỉ trong một số trường hợp nhất định giao dịch mới được thực hiện hợp lệ theo khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020.

Phạm vi được phép chuyển nhượng trong 03 năm đầu

Chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác

Cổ đông sáng lập được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác mà không cần xin chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Đây là trường hợp được phép trực tiếp theo khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020. Trong thực tiễn, đây là phương thức linh hoạt nhất nếu cổ đông sáng lập muốn rút vốn hoặc điều chỉnh tỷ lệ sở hữu trong giai đoạn đầu.

Chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập

Nếu bên nhận chuyển nhượng không phải là cổ đông sáng lập, giao dịch chỉ hợp lệ khi được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận theo khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020. Đồng thời, cổ đông sáng lập dự định chuyển nhượng không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng cổ phần đó. Quy định này ngăn ngừa xung đột lợi ích và bảo đảm quyết định của Đại hội đồng cổ đông phản ánh ý chí của các cổ đông còn lại.

Những loại cổ phần không bị hạn chế theo quy tắc 03 năm

Không phải mọi cổ phần do cổ đông sáng lập nắm giữ đều chịu hạn chế nêu trên. Theo khoản 4 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020, hạn chế tại khoản 3 không áp dụng đối với cổ phần phổ thông mà cổ đông sáng lập có thêm sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, cũng như cổ phần đã được chuyển nhượng cho người khác không phải là cổ đông sáng lập. Đây là điểm cần phân biệt rõ để tránh áp dụng nhầm quy tắc hạn chế sang mọi giao dịch của cổ đông sáng lập.

Nói cách khác, pháp luật chỉ siết chặt đối với phần cổ phần phổ thông gắn với tư cách cổ đông sáng lập trong 03 năm đầu. Khi cổ phần đã ra khỏi phạm vi này, hoặc khi cổ đông sáng lập nhận thêm cổ phần sau đăng ký thành lập, giao dịch chuyển nhượng được xem xét theo cơ chế chung của cổ phần phổ thông.

Thời điểm sau 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

Hết thời hạn 03 năm, các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập theo khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020 không còn áp dụng. Khi đó, cổ đông sáng lập có thể chuyển nhượng cổ phần theo cơ chế thông thường của công ty cổ phần, không phụ thuộc vào điều kiện phải là cổ đông sáng lập hay phải xin chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông chỉ vì tư cách sáng lập.

Do đó, mốc thời gian 03 năm có ý nghĩa quyết định. Trong 03 năm đầu, quyền chuyển nhượng bị kiểm soát chặt; sau 03 năm, việc bán cổ phần được tự do hơn và phù hợp với nguyên tắc lưu chuyển cổ phần trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2020.

Ý nghĩa quản trị và lưu ý thực tiễn

Quy định hạn chế chuyển nhượng trong 03 năm đầu nhằm bảo vệ sự ổn định của cơ cấu sở hữu, bảo đảm cam kết của nhóm sáng lập đối với doanh nghiệp mới thành lập. Đây cũng là cơ chế giúp tránh tình trạng thay đổi chủ sở hữu quá nhanh, ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh, kiểm soát nội bộ và trách nhiệm khởi tạo doanh nghiệp trong giai đoạn đầu.

Trong thực tiễn, khi thực hiện giao dịch, doanh nghiệp cần rà soát đúng loại cổ phần, thời điểm được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và tư cách của bên nhận chuyển nhượng. Nếu vi phạm điều kiện chuyển nhượng trong 03 năm đầu, giao dịch có nguy cơ không đáp ứng yêu cầu pháp lý và kéo theo tranh chấp về hiệu lực, nghĩa vụ cập nhật sổ đăng ký cổ đông cũng như quyền biểu quyết liên quan.

Kết luận

Cổ đông sáng lập không được tự do bán cổ phần ngay sau khi thành lập, nhưng vẫn có thể chuyển nhượng trong phạm vi luật cho phép. Trong 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, chỉ được tự do chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác; nếu chuyển cho người ngoài thì phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận theo khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020. Hết thời hạn 03 năm, các hạn chế này đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập không còn áp dụng.

Tài liệu tham khảo

  • Luật Doanh nghiệp 2020, số 59/2020/QH14.
  • Nghị định 155/2020/NĐ-CP của Chính phủ.
  • Nghị định 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp.
  • Bộ luật Dân sự 2015.
  • Luật Chứng khoán 2019.

Câu hỏi thường gặp

Cổ đông sáng lập có bán hết cổ phần ngay sau khi công ty thành lập được không?
Không được tự do bán hết cho bất kỳ ai ngay sau khi thành lập; trong 03 năm đầu chỉ được chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác hoặc cho người ngoài khi được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận.
Nếu bán cho người ngoài trong 03 năm đầu thì có cần họp Đại hội đồng cổ đông không?
Có. Theo khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020, việc chuyển nhượng cho người không phải cổ đông sáng lập phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận.
Cổ đông sáng lập có quyền biểu quyết khi chính mình xin chuyển nhượng cổ phần không?
Không. Cổ đông sáng lập dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng số cổ phần đó theo khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020.
Sau 03 năm, cổ đông sáng lập còn bị hạn chế chuyển nhượng không?
Không. Hết 03 năm kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hạn chế đặc thù đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập không còn áp dụng.