Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc: ai chịu trách nhiệm khi doanh nghiệp thua lỗ?
Phân tích trách nhiệm pháp lý của Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc khi doanh nghiệp thua lỗ theo Luật Doanh nghiệp 2020.
Tổng quan
Trong doanh nghiệp, việc phát sinh thua lỗ không tự động đồng nghĩa với việc Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Tổng giám đốc phải bồi thường. Trách nhiệm pháp lý chỉ đặt ra khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ quản trị, điều hành, trung thực, cẩn trọng hoặc tuân thủ quyết định có liên quan của cơ quan quản lý công ty. Bài viết làm rõ ranh giới giữa rủi ro kinh doanh và trách nhiệm cá nhân theo pháp luật doanh nghiệp hiện hành, đồng thời phân tích cơ chế xác định trách nhiệm của từng chức danh trong các tình huống gây thiệt hại cho công ty. Nội dung cũng hệ thống hóa căn cứ pháp lý để nhận diện khi nào thua lỗ là hậu quả kinh doanh bình thường, khi nào trở thành vi phạm cần bồi thường hoặc chịu trách nhiệm trước pháp luật.Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc: khác nhau ở vị trí, khác nhau ở trách nhiệm
Trong mô hình công ty cổ phần, Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, còn Tổng giám đốc là người điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty theo quy định tại Điều 153 và Điều 162 Luật Doanh nghiệp 2020. Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đứng đầu Hội đồng quản trị, có vai trò tổ chức hoạt động của cơ quan quản lý này theo Điều 156 Luật Doanh nghiệp 2020. Hai chức danh này không đồng nhất về thẩm quyền, nên cũng không thể mặc nhiên quy trách nhiệm giống nhau khi doanh nghiệp thua lỗ.
Về nguyên tắc, doanh nghiệp thua lỗ là kết quả của hoạt động kinh doanh, không phải cứ lỗ là có vi phạm pháp luật. Chỉ khi khoản lỗ gắn với quyết định trái luật, quản trị cẩu thả, xung đột lợi ích, lạm quyền hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ được giao thì trách nhiệm cá nhân mới được đặt ra. Do đó, câu hỏi pháp lý trọng tâm không phải là “ai làm công ty lỗ”, mà là “ai đã vi phạm nghĩa vụ nào, và vi phạm đó có gây thiệt hại hay không”.
Cơ sở pháp lý về trách nhiệm của người quản lý công ty
Luật Doanh nghiệp 2020 xác lập nghĩa vụ chung đối với người quản lý công ty tại Điều 165, trong đó có thành viên Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc. Theo khoản 1 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020, người quản lý phải thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty; trung thành với lợi ích của công ty; không lạm dụng địa vị, chức vụ, thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.
Khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định rõ: thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác vi phạm nghĩa vụ tại khoản 1 phải chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới bồi thường toàn bộ thiệt hại cho công ty và bên thứ ba, đồng thời hoàn trả lợi ích thu được từ vi phạm. Đây là căn cứ quan trọng nhất để xác định trách nhiệm khi doanh nghiệp bị thiệt hại do hành vi quản lý, điều hành trái pháp luật. Nói cách khác, pháp luật không xử lý “thua lỗ” như một kết quả trừu tượng, mà xử lý “hành vi vi phạm dẫn đến thua lỗ”.
Chủ tịch HĐQT có phải chịu trách nhiệm khi công ty thua lỗ?
Chủ tịch Hội đồng quản trị không phải là người mặc nhiên chịu trách nhiệm thay cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty. Trách nhiệm của Chủ tịch HĐQT phát sinh khi người này vi phạm nghĩa vụ với tư cách thành viên HĐQT hoặc với tư cách người tổ chức thực hiện quyết định của HĐQT. Theo khoản 2 Điều 140 Luật Doanh nghiệp 2020, trường hợp Hội đồng quản trị không triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông theo quy định thì Chủ tịch HĐQT và các thành viên HĐQT phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho công ty.
Trường hợp Chủ tịch HĐQT trực tiếp tham gia biểu quyết, chỉ đạo hoặc chấp thuận một quyết định đầu tư, ký kết, tái cấu trúc hay sử dụng tài sản công ty trái quy định làm phát sinh thiệt hại, trách nhiệm cũng được xem xét theo khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020. Nếu thua lỗ xuất phát từ chính sách kinh doanh rủi ro nhưng được thông qua đúng thẩm quyền, đúng trình tự và trên cơ sở thông tin hợp lý, thì đây là rủi ro quản trị chứ không tự động là căn cứ bồi thường.
Đáng chú ý, Chủ tịch HĐQT có thể kiêm Tổng giám đốc trong một số trường hợp theo khoản 2 Điều 156 Luật Doanh nghiệp 2020, trừ các trường hợp pháp luật chuyên ngành hoặc quy định về doanh nghiệp nhà nước hạn chế. Khi kiêm nhiệm, trách nhiệm pháp lý của người đó có thể phát sinh đồng thời ở cả hai vai trò: vai trò quản lý của HĐQT và vai trò điều hành của Tổng giám đốc.
Tổng giám đốc chịu trách nhiệm đến đâu khi doanh nghiệp lỗ?
Tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước HĐQT về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ được giao theo Điều 162 Luật Doanh nghiệp 2020. Theo khoản 4 Điều 162 Luật Doanh nghiệp 2020, nếu điều hành trái với quy định của pháp luật, Điều lệ công ty, hợp đồng lao động hoặc quyết định của HĐQT mà gây thiệt hại cho công ty thì Tổng giám đốc phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường cho công ty. Đây là căn cứ trực tiếp để xác định trách nhiệm khi thiệt hại xuất phát từ lỗi điều hành.
Tổng giám đốc không chịu trách nhiệm cá nhân chỉ vì công ty kinh doanh không có lãi, miễn là đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng quy trình và trong giới hạn nghị quyết của HĐQT. Tuy nhiên, nếu tự ý vượt quyền, ký kết giao dịch bất lợi, buông lỏng kiểm soát nội bộ, sử dụng tài sản công ty sai mục đích hoặc che giấu thông tin tài chính dẫn đến thiệt hại, trách nhiệm bồi thường sẽ được đặt ra. Trong nhiều trường hợp, Tổng giám đốc còn có thể phải chịu trách nhiệm liên đới nếu vi phạm cùng với thành viên HĐQT hoặc người quản lý khác theo khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020.
Ai chịu trách nhiệm chính: phụ thuộc vào nguồn gốc thiệt hại
Phân định trách nhiệm phải dựa trên nguồn gốc của khoản lỗ. Nếu HĐQT ban hành chủ trương, chiến lược, dự án hoặc quyết định đầu tư sai quy định, Chủ tịch HĐQT và các thành viên HĐQT tham gia quyết định có thể phải chịu trách nhiệm tương ứng với mức độ lỗi. Nếu thiệt hại phát sinh từ khâu tổ chức thực hiện, giám sát yếu kém hoặc điều hành sai của bộ máy điều hành, Tổng giám đốc là chủ thể bị xem xét trước tiên.
Trong thực tiễn, một khoản lỗ lớn thường không chỉ do một người gây ra. Cơ quan quản lý công ty có thể cùng chịu trách nhiệm nếu cùng thông qua quyết định trái quy định; người điều hành có thể chịu trách nhiệm nếu triển khai sai hoặc vượt quyền; người đại diện theo pháp luật có thể bị xem xét nếu thiếu trung thực, thiếu cẩn trọng hoặc không thực hiện nghĩa vụ quản lý. Vì vậy, trách nhiệm trong doanh nghiệp thường là trách nhiệm gắn với chức năng và hành vi, không phải trách nhiệm mặc định theo chức danh.
Những tiêu chí thường được dùng để xác định trách nhiệm
- Có vi phạm nghĩa vụ trung thực, cẩn trọng và trung thành theo khoản 1 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020 hay không.
- Có quyết định vượt thẩm quyền, trái Điều lệ, trái nghị quyết HĐQT hoặc trái pháp luật hay không.
- Có quan hệ nhân quả giữa hành vi quản trị, điều hành và thiệt hại thực tế của công ty hay không.
- Có yếu tố tư lợi, xung đột lợi ích hoặc lạm dụng thông tin, tài sản, cơ hội kinh doanh của công ty hay không.
- Có sự tham gia, đồng ý hoặc bỏ phiếu thông qua của nhiều người quản lý dẫn đến thiệt hại hay không.
Thua lỗ và phá sản: cần phân biệt để tránh nhầm lẫn trách nhiệm
Doanh nghiệp thua lỗ không đồng nghĩa với doanh nghiệp phá sản, và cũng không đồng nghĩa với việc chủ quản hay người điều hành phải dùng tài sản riêng để trả toàn bộ nợ. Trong công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, nguyên tắc chung là chủ sở hữu, thành viên và cổ đông chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Trách nhiệm cá nhân của Chủ tịch HĐQT hoặc Tổng giám đốc chỉ phát sinh khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ quản lý, điều hành hoặc có căn cứ pháp lý đặc biệt.
Vì vậy, nếu công ty lỗ do thị trường biến động, giá nguyên liệu tăng, nhu cầu giảm hoặc mô hình kinh doanh không đạt kỳ vọng nhưng không có vi phạm pháp luật, thì đây là rủi ro thương mại của doanh nghiệp. Ngược lại, nếu khoản lỗ bắt nguồn từ giao dịch với bên liên quan không minh bạch, đầu tư vô tội vạ, dùng sai vốn, hoặc cố ý che giấu tình trạng tài chính, người quản lý có thể phải bồi thường và chịu trách nhiệm khác theo pháp luật. Ranh giới này rất quan trọng trong quản trị doanh nghiệp hiện đại.
Khuyến nghị quản trị để hạn chế tranh chấp trách nhiệm
Doanh nghiệp cần phân định rõ thẩm quyền giữa HĐQT và Tổng giám đốc trong Điều lệ, quy chế tài chính, quy chế đầu tư và quy chế ủy quyền. Mỗi quyết định quan trọng nên có hồ sơ đầy đủ về căn cứ, ý kiến phản biện, đánh giá rủi ro và biên bản biểu quyết để xác định đúng chủ thể chịu trách nhiệm nếu phát sinh thiệt hại. Cơ chế kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ và giám sát giao dịch với người có liên quan cũng là công cụ then chốt để giảm nguy cơ vi phạm.
Đối với Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc, nguyên tắc an toàn pháp lý là tuân thủ đúng thẩm quyền, tránh can thiệp chéo và không để quyết định kinh doanh thiếu cơ sở pháp lý. Khi thị trường biến động khiến doanh nghiệp thua lỗ, hồ sơ quản trị đầy đủ sẽ giúp chứng minh rằng thiệt hại là rủi ro kinh doanh hợp lệ, không phải hệ quả của hành vi vi phạm. Ngược lại, khi hồ sơ quản trị sơ sài, trách nhiệm cá nhân rất dễ bị suy luận từ chính dấu vết quản lý thiếu chuẩn mực.
Kết luận
Không có quy tắc pháp lý nào cho rằng cứ doanh nghiệp thua lỗ thì Chủ tịch HĐQT hoặc Tổng giám đốc đương nhiên phải chịu trách nhiệm. Trách nhiệm chỉ phát sinh khi người quản lý vi phạm nghĩa vụ trung thực, cẩn trọng, trung thành; vi phạm thẩm quyền; hoặc điều hành trái pháp luật gây thiệt hại cho công ty. Trong cấu trúc quản trị doanh nghiệp, Chủ tịch HĐQT chịu trách nhiệm ở vai trò định hướng và giám sát quản lý, còn Tổng giám đốc chịu trách nhiệm ở vai trò điều hành hằng ngày; ai vi phạm ở khâu nào thì người đó phải chịu trách nhiệm tương ứng ở khâu đó.
Tài liệu tham khảo
- Luật Doanh nghiệp 2020.
- Bộ luật Dân sự 2015.
- Điều lệ công ty và quy chế nội bộ quản trị công ty.
- Các quy định liên quan về công ty đại chúng, nếu doanh nghiệp là công ty niêm yết hoặc đại chúng.
- Hướng dẫn, án lệ và thực tiễn xét xử liên quan đến trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp.