Bôi nhọ, vu khống hoặc xúc phạm danh dự trên mạng: Khi nào bị xử lý hình sự?
Phân biệt vu khống, làm nhục, xúc phạm danh dự trên mạng và các căn cứ xử lý hình sự theo luật hiện hành.
Tổng quan
Hành vi bôi nhọ, vu khống hoặc xúc phạm danh dự, nhân phẩm trên mạng xã hội đã được pháp luật Việt Nam điều chỉnh bằng cả chế tài hành chính và hình sự. Ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự phụ thuộc vào tính chất thông tin đưa ra, mức độ xúc phạm, hậu quả gây ra và lỗi chủ quan của người thực hiện. Bài viết làm rõ căn cứ pháp lý hiện hành, các dấu hiệu cấu thành tội phạm, khung hình phạt và một số tình huống thường gặp trong môi trường số. Nội dung hướng tới việc nhận diện đúng khi nào một bình luận, bài đăng hay chia sẻ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.Bản chất pháp lý của hành vi bôi nhọ, vu khống, xúc phạm danh dự trên mạng
Trong môi trường mạng, các hành vi như đăng bài, bình luận, chia sẻ hình ảnh, video, tin nhắn hoặc cắt ghép nội dung để làm giảm uy tín của người khác đều có thể xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín được pháp luật bảo vệ. Ở góc độ pháp lý, không phải mọi lời lẽ xúc phạm đều lập tức cấu thành tội phạm; pháp luật phân biệt giữa vi phạm hành chính và hành vi đủ yếu tố cấu thành tội danh. Sự phân định này dựa vào nội dung thông tin, mục đích của người thực hiện, mức độ lan truyền và hậu quả đối với nạn nhân.
Trên thực tế, hai tội danh thường được áp dụng là tội làm nhục người khác và tội vu khống. Nếu hành vi chủ yếu nhằm hạ thấp, sỉ nhục, bêu xấu nhân phẩm người khác bằng lời nói, hình ảnh hoặc thông tin xúc phạm nghiêm trọng thì trọng tâm thường nằm ở Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Nếu người thực hiện bịa đặt hoặc loan truyền điều biết rõ là sai sự thật để xúc phạm danh dự, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì thuộc phạm vi Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.
Khi nào hành vi trên mạng bị xử lý hình sự?
Hành vi bị xử lý hình sự khi đã đạt đến ngưỡng nguy hiểm cho xã hội do Bộ luật Hình sự xác định. Đối với tội làm nhục người khác, theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp hành vi được thực hiện bằng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử, đây là tình tiết định khung tăng nặng tại điểm e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.
Đối với tội vu khống, theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, người nào bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác sẽ bị xử lý hình sự. Hành vi này trên mạng thường biểu hiện qua việc dựng chuyện, gán ghép quan hệ, tạo tin nhắn giả, chỉnh sửa hình ảnh hoặc lan truyền thông tin bịa đặt cho nhiều người cùng biết. Khi thông tin sai sự thật được phát tán trên nền tảng số, hậu quả thường lan nhanh và là căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ nguy hiểm.
Việc xử lý hình sự còn đặt ra khi hành vi đã từng bị xử phạt hành chính về cùng hành vi mà vẫn tiếp tục vi phạm, hoặc đã bị kết án về tội tương ứng nhưng chưa được xóa án tích. Đây là dấu hiệu cho thấy tính tái phạm hoặc sự coi thường pháp luật, làm tăng khả năng bị truy cứu theo Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, việc xác định tội danh cụ thể luôn phải dựa vào toàn bộ hành vi, chứng cứ điện tử và hậu quả thực tế.
Căn cứ pháp lý hiện hành áp dụng đến năm 2026
1. Tội làm nhục người khác
Theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Theo điểm e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, nếu phạm tội bằng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Theo điểm a khoản 3 Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, trường hợp gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc làm nạn nhân tự sát thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.
Ngoài hình phạt chính, theo khoản 4 Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Đây là chế tài quan trọng trong các vụ việc liên quan đến người có vị trí, nghề nghiệp hoặc môi trường làm việc gắn với uy tín xã hội. Khi hành vi xúc phạm được thực hiện công khai trên mạng xã hội, yếu tố lan truyền thường là căn cứ để đánh giá tính nghiêm trọng của sự xúc phạm.
2. Tội vu khống
Theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, người nào bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. Theo điểm e khoản 2 Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, hành vi sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội là tình tiết định khung tăng nặng.
Theo khoản 3 Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, nếu vu khống người khác thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, đối với 02 người trở lên, gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc làm nạn nhân tự sát thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm. Theo khoản 4 Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
3. Xử phạt hành chính trong môi trường mạng
Trước khi đạt ngưỡng truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi đưa thông tin sai sự thật, xúc phạm, xuyên tạc trên mạng còn có thể bị xử phạt hành chính. Theo các quy định của Nghị định 15/2020/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung, hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân trên mạng xã hội có thể bị xử phạt hành chính, tùy tính chất và mức độ vi phạm. Chế tài hành chính không loại trừ trách nhiệm hình sự nếu hành vi đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Phân biệt vu khống, làm nhục và phát ngôn bức xúc thông thường
Vu khống là bịa đặt hoặc loan truyền điều biết rõ là sai sự thật. Dấu hiệu cốt lõi là có yếu tố gian dối về факт, tức thông tin được đưa ra không đúng sự thật và người đăng biết rõ điều đó. Làm nhục lại tập trung vào hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự, có thể không nhất thiết chứa thông tin sai sự thật nhưng phải đạt mức độ nghiêm trọng. Phát ngôn bức xúc thông thường, dù thiếu chuẩn mực, chưa chắc đã cấu thành tội phạm nếu chưa đạt ngưỡng nghiêm trọng hoặc chưa có mục đích xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
Trong thực tiễn xét xử, cơ quan tố tụng thường xem xét toàn bộ bối cảnh, tần suất đăng tải, ngôn từ sử dụng, số lượng người tiếp cận, mục đích công kích và hậu quả đối với nạn nhân. Một bình luận đơn lẻ, thiếu tính nghiêm trọng, thường chỉ dừng ở mức vi phạm dân sự hoặc hành chính. Ngược lại, việc dựng chuyện, cắt ghép, phát tán trên diện rộng và tiếp tục lặp lại sau khi đã bị yêu cầu gỡ bỏ là dấu hiệu bất lợi rất lớn cho người thực hiện.
Chứng cứ điện tử và trách nhiệm pháp lý của người đăng, người chia sẻ
Trong tranh chấp và tố tụng hình sự liên quan đến danh dự trên mạng, chứng cứ điện tử giữ vai trò quyết định. Các dữ liệu như bài đăng, ảnh chụp màn hình, đường dẫn, lịch sử chỉnh sửa, bình luận, lượt chia sẻ, thông tin tài khoản và dữ liệu máy chủ đều có giá trị xác minh hành vi. Người khởi tạo nội dung, người trực tiếp đăng tải, người chỉnh sửa nội dung trước khi lan truyền và người tiếp tay trong tổ chức thực hiện đều có thể phải chịu trách nhiệm theo mức độ tham gia.
Việc xóa bài, đổi tên tài khoản hoặc khóa trang sau khi sự việc bị phát hiện không đương nhiên làm mất trách nhiệm pháp lý. Cơ quan có thẩm quyền vẫn có thể thu thập chứng cứ từ nền tảng số, thiết bị đầu cuối và nguồn dữ liệu liên quan. Vì vậy, tính “ẩn danh” trên mạng không phải là lá chắn pháp lý tuyệt đối.
Khuyến nghị pháp lý khi bị xúc phạm, bôi nhọ hoặc vu khống trên mạng
Người bị xâm phạm danh dự cần lưu giữ chứng cứ ngay từ thời điểm phát hiện hành vi, ưu tiên chụp màn hình, ghi nhận thời gian, tài khoản, nội dung và mức độ lan truyền. Sau đó có thể yêu cầu gỡ bỏ, cải chính, xin lỗi công khai hoặc gửi đơn đến cơ quan công an, viện kiểm sát hoặc tòa án tùy tính chất vụ việc. Trong những trường hợp có dấu hiệu tội phạm rõ ràng, việc tố giác sớm giúp bảo toàn dữ liệu điện tử và hạn chế thiệt hại tiếp diễn.
Người sử dụng mạng xã hội cũng cần phân biệt giữa phản biện, bình luận và xúc phạm. Phê bình dựa trên факт, ngôn ngữ chuẩn mực và nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp là quyền tự do biểu đạt được pháp luật ghi nhận. Ngược lại, bịa đặt, miệt thị, cắt ghép hoặc bôi nhọ người khác có thể dẫn đến xử phạt nặng, kể cả trách nhiệm hình sự với hậu quả lâu dài đối với nhân thân, uy tín và nghề nghiệp.
Kết luận
Bôi nhọ, vu khống hoặc xúc phạm danh dự trên mạng bị xử lý hình sự khi hành vi đã đạt mức độ nghiêm trọng và thỏa mãn dấu hiệu của tội làm nhục người khác hoặc tội vu khống theo Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Môi trường mạng không làm giảm trách nhiệm pháp lý; trái lại, việc sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử còn là tình tiết định khung tăng nặng trong nhiều trường hợp. Cách tiếp cận đúng là nhận diện chính xác bản chất hành vi, thu thập chứng cứ đầy đủ và lựa chọn cơ chế bảo vệ quyền phù hợp với mức độ vi phạm.
Tài liệu tham khảo
- Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.
- Nghị định 15/2020/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử.
- Luật An ninh mạng 2018.
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Bộ luật Dân sự 2015.