Ép cung, mớm cung và bạo lực khi lấy lời khai: cơ chế phản ánh và bảo vệ quyền lợi
Hướng dẫn pháp lý về ép cung, mớm cung, bạo lực khi lấy lời khai và cách khiếu nại, tố cáo, bảo vệ quyền lợi.
Tổng quan
Ép cung, mớm cung và dùng bạo lực trong hoạt động lấy lời khai là những hành vi xâm phạm nghiêm trọng tính hợp pháp của tố tụng hình sự, đồng thời làm suy giảm giá trị chứng cứ và đe dọa trực tiếp quyền con người. Trong khuôn khổ pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành, người bị hỏi cung, người bị lấy lời khai và người bào chữa đều được trao các quyền nhất định để ngăn chặn, phản ánh và yêu cầu xử lý vi phạm. Bài viết hệ thống hóa các cơ sở pháp lý cốt lõi, chỉ ra dấu hiệu nhận diện hành vi vi phạm và trình bày các kênh phản ánh, khiếu nại, tố cáo và yêu cầu bảo vệ quyền lợi. Nội dung cũng nhấn mạnh ý nghĩa của ghi âm, ghi hình, biên bản hỏi cung và các chứng cứ y khoa trong việc chứng minh hành vi trái pháp luật.Khái niệm và ý nghĩa pháp lý của việc ngăn chặn ép cung, mớm cung
Ép cung là việc dùng áp lực, đe dọa, cưỡng ép về tinh thần hoặc thể chất để buộc người tham gia tố tụng khai theo ý chí của người tiến hành tố tụng. Mớm cung là việc gợi sẵn nội dung lời khai, dẫn dắt người được hỏi khai theo kịch bản định trước thay vì trình bày sự thật khách quan. Dùng bạo lực trong khi lấy lời khai, hỏi cung là hành vi xâm phạm thân thể, nhân phẩm, sức khỏe và làm sai lệch bản chất hoạt động tố tụng.
Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam coi việc bảo đảm tính tự nguyện, trung thực của lời khai là nguyên tắc bắt buộc. Khi lời khai được tạo ra từ ép cung, mớm cung hoặc bạo lực, giá trị chứng minh của tài liệu tố tụng bị suy giảm nghiêm trọng, đồng thời phát sinh trách nhiệm pháp lý đối với người thực hiện hành vi vi phạm.
Cơ sở pháp lý hiện hành cần viện dẫn
Theo khoản 1 Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị can, bị cáo có quyền trình bày lời khai, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội. Theo khoản 5 và khoản 6 Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, điều tra viên, cán bộ điều tra, kiểm sát viên, kiểm tra viên bức cung hoặc dùng nhục hình đối với bị can thì phải chịu trách nhiệm hình sự; việc hỏi cung tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
Theo khoản 2 Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khi hỏi cung bị can phải được lập biên bản theo đúng trình tự; bị can có quyền đọc lại biên bản, yêu cầu sửa chữa, bổ sung và ký xác nhận. Theo Điều 6 Luật Tố cáo 2018, người tố cáo có quyền được bảo mật họ tên, địa chỉ, bút tích, thông tin cá nhân và được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín khi bị đe dọa do việc tố cáo.
Ngoài ra, theo Điều 144 và Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cá nhân có quyền tố giác tội phạm; cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm theo thẩm quyền. Khi hành vi ép cung, mớm cung, bạo lực làm phát sinh dấu hiệu tội phạm, việc phản ánh không chỉ là quyền mà còn là cơ sở khởi động cơ chế xử lý hình sự.
Dấu hiệu nhận biết hành vi vi phạm trong quá trình lấy lời khai
Dấu hiệu phổ biến của ép cung là đe dọa bắt giam, giữ lâu, không cho nghỉ, buộc phải ký vào biên bản chưa đọc, hoặc tạo áp lực tinh thần để người bị hỏi cung nhận tội. Dấu hiệu của mớm cung là người hỏi liên tục nêu sẵn câu trả lời, yêu cầu chọn đáp án định trước, sửa câu khai theo ý người lấy lời khai, hoặc ghi vào biên bản những nội dung người khai không thực sự trình bày. Dấu hiệu của bạo lực là đánh, trói, đe dọa dùng vũ lực, làm tổn thương thân thể, hoặc để lại thương tích trong và sau buổi làm việc.
Trong thực tiễn tố tụng, các vi phạm này thường đi kèm với việc không cho người bào chữa tham gia đúng thời điểm, không thông báo thời gian và địa điểm hỏi cung, không ghi âm hoặc ghi hình theo quy định, hoặc lập biên bản thiếu đầy đủ. Càng xuất hiện nhiều dấu hiệu đồng thời, khả năng xác định hành vi trái pháp luật càng rõ ràng và càng cần phản ánh ngay.
Cách phản ánh, khiếu nại và tố cáo để bảo vệ quyền lợi
Người bị ép cung, mớm cung hoặc bạo lực cần yêu cầu dừng ngay hoạt động hỏi cung, lấy lời khai và đề nghị lập biên bản về sự việc. Nếu đang có người bào chữa, phải thông báo ngay cho người bào chữa để ghi nhận vi phạm, yêu cầu bảo vệ quyền lợi và đề nghị kiểm tra tính hợp pháp của hoạt động tố tụng. Trường hợp có thương tích, cần đề nghị giám định, khám, chụp ảnh, cấp giấy chứng nhận thương tích hoặc tài liệu y tế để làm chứng cứ.
Về kênh phản ánh, có thể khiếu nại trong tố tụng đối với quyết định, hành vi tố tụng trái pháp luật theo các quy định tương ứng của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; đồng thời tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người tiến hành tố tụng theo Luật Tố cáo 2018 đến cơ quan quản lý trực tiếp, Viện kiểm sát có thẩm quyền hoặc cơ quan tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm. Nếu có dấu hiệu tội phạm, nội dung phản ánh cần xác định rõ thời gian, địa điểm, người thực hiện, hành vi cụ thể, hậu quả và yêu cầu xử lý theo đúng thẩm quyền.
Trong thực tế, hồ sơ phản ánh nên kèm theo bản sao biên bản làm việc, tài liệu y tế, ảnh chụp thương tích, file ghi âm, ghi hình, danh sách người chứng kiến, và văn bản đề nghị bảo vệ người tố cáo. Khi có nguy cơ bị trả đũa, cần yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ người tố cáo theo Luật Tố cáo 2018, nhất là bảo vệ bí mật thông tin và an toàn cá nhân.
Chứng cứ nào có giá trị trong việc chứng minh ép cung, mớm cung, bạo lực
Giá trị chứng minh thường đến từ biên bản hỏi cung, dữ liệu ghi âm, ghi hình, kết quả giám định thương tích, hồ sơ bệnh án, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu thể hiện sự mâu thuẫn giữa lời khai ban đầu với lời khai sau đó. Nếu không được ghi âm hoặc ghi hình theo quy định tại khoản 6 Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, đây là dấu hiệu quan trọng để xem xét tính hợp pháp của quá trình hỏi cung. Trường hợp biên bản có sửa chữa, tẩy xóa, thiếu chữ ký hoặc nội dung không phản ánh đúng lời trình bày, cần yêu cầu đối chiếu ngay.
Người bị hỏi cung không nên ký vào nội dung không được đọc lại hoặc không đúng sự thật. Nếu buộc phải ký để chấm dứt áp lực tức thời, cần ghi rõ ý kiến phản đối ngay trong biên bản, ký kèm ghi chú không đồng ý với nội dung bị ghi sai, và nhanh chóng gửi đơn phản ánh bằng văn bản để xác lập chứng cứ về việc phản đối.
Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng và hậu quả pháp lý
Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm bảo đảm hoạt động hỏi cung, lấy lời khai diễn ra đúng thẩm quyền, đúng trình tự và tôn trọng quyền con người. Khi phát hiện vi phạm, cơ quan có thẩm quyền phải kiểm tra, xác minh, xem xét trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hình sự và trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật. Việc sử dụng bức cung, nhục hình không chỉ làm phát sinh trách nhiệm cá nhân mà còn ảnh hưởng đến giá trị của chứng cứ và tính hợp pháp của tiến trình tố tụng.
Về nguyên tắc, lời khai được thu thập trái pháp luật không được đặt ngang hàng với lời khai tự nguyện, hợp pháp. Khi chứng cứ gốc bị nhiễm vi phạm nghiêm trọng, cơ quan tiến hành tố tụng phải đánh giá lại toàn bộ chuỗi chứng cứ, tránh kết luận oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.
Kết luận
Phản ánh kịp thời hành vi ép cung, mớm cung và dùng bạo lực khi lấy lời khai là biện pháp thiết thực để bảo vệ quyền con người và bảo đảm tính hợp pháp của tố tụng hình sự. Cơ chế pháp lý hiện hành cho phép người bị xâm phạm quyền lợi sử dụng đồng thời nhiều kênh: yêu cầu dừng vi phạm, lập biên bản, thu thập chứng cứ, khiếu nại trong tố tụng và tố cáo hành vi vi phạm. Hiệu quả bảo vệ phụ thuộc lớn vào việc ghi nhận đúng sự kiện, giữ chứng cứ và thực hiện phản ánh bằng văn bản, đúng thẩm quyền, đúng thời điểm.
Tài liệu tham khảo
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Luật Tố cáo 2018.
- Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.
- Nghị định 31/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo.
- Văn bản hợp nhất 29/VBHN-VPQH 2026 Luật Tố cáo.