Bảo hiểm xã hội bắt buộc: đối tượng tham gia và trách nhiệm đóng

Phân tích đối tượng tham gia và trách nhiệm đóng BHXH bắt buộc theo Luật BHXH 2024 và Nghị định 158/2025/NĐ-CP.

Tổng quan

Bảo hiểm xã hội bắt buộc là trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, được thiết kế để bảo vệ người lao động trước các rủi ro về ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí và tử tuất. Từ ngày 01/7/2025, khuôn khổ pháp lý về bảo hiểm xã hội bắt buộc được áp dụng theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và Nghị định 158/2025/NĐ-CP, với phạm vi đối tượng tham gia mở rộng và cơ chế đóng được quy định chặt chẽ hơn. Bài viết hệ thống hóa các nhóm đối tượng phải tham gia, chủ thể có trách nhiệm đóng, căn cứ tính đóng và một số vấn đề pháp lý cần lưu ý trong thực tiễn áp dụng. Nội dung được trình bày theo hướng học thuật, cập nhật theo pháp luật hiện hành đến năm 2026.

Cơ sở pháp lý và ý nghĩa của chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc

Bảo hiểm xã hội bắt buộc là chế độ do Nhà nước tổ chức, áp dụng đối với những nhóm người lao động và chủ thể có quan hệ lao động, quan hệ công vụ hoặc quan hệ quản lý được luật định. Theo khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, phạm vi tham gia đã được mở rộng để bao quát nhiều dạng việc làm và vị trí pháp lý khác nhau. Nghị định 158/2025/NĐ-CP là văn bản quan trọng hướng dẫn chi tiết Luật Bảo hiểm xã hội 2024 về đối tượng tham gia, căn cứ đóng và trách nhiệm thực hiện. Hệ thống quy định này nhằm bảo đảm tính bao phủ của an sinh xã hội và tăng cường kỷ luật tuân thủ trong quan hệ lao động.

Về mặt pháp lý, chế độ bắt buộc khác với bảo hiểm xã hội tự nguyện ở chỗ người thuộc diện áp dụng không được lựa chọn có tham gia hay không, mà phải thực hiện theo đúng quy định của luật. Cơ chế bắt buộc thể hiện rõ tính cộng đồng chia sẻ rủi ro, đồng thời tạo điều kiện hình thành quỹ an sinh ổn định, lâu dài. Trong thực tiễn áp dụng, việc xác định đúng đối tượng tham gia có ý nghĩa quyết định đối với quyền lợi của người lao động và nghĩa vụ của người sử dụng lao động.

Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

Người lao động là công dân Việt Nam

Theo khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, người lao động là công dân Việt Nam thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, kể cả trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng nội dung thể hiện việc làm có trả công, tiền lương và có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên. Quy định này khắc phục tình trạng “đặt tên hợp đồng” khác nhau để né tránh nghĩa vụ bảo hiểm.

Cùng với đó, cán bộ, công chức, viên chức; công nhân và viên chức quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ và học viên trong lực lượng vũ trang đang hưởng sinh hoạt phí hoặc tiền lương theo chế độ đều thuộc diện bắt buộc tham gia. Ngoài ra, dân quân thường trực, người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố và chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh cũng được đưa vào phạm vi điều chỉnh theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và Nghị định 158/2025/NĐ-CP.

Người lao động đi làm việc ở nước ngoài và người làm việc theo mô hình mới

Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác, thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024. Đây là nhóm có ý nghĩa thực tiễn lớn vì quan hệ lao động diễn ra ngoài lãnh thổ nhưng vẫn cần bảo đảm quyền an sinh gắn với quốc tịch Việt Nam.

Đáng chú ý, Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và Nghị định 158/2025/NĐ-CP đã ghi nhận nhiều dạng việc làm mới, trong đó có người làm việc không trọn thời gian nhưng có tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn mức làm căn cứ đóng thấp nhất; người làm việc theo hợp đồng không mang tên hợp đồng lao động nhưng có đủ dấu hiệu về trả công, tiền lương, quản lý, điều hành, giám sát; và người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, đại diện phần vốn, chức danh quản lý của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã không hưởng tiền lương. Việc mở rộng này phản ánh yêu cầu thích ứng của pháp luật bảo hiểm xã hội trước biến đổi của thị trường lao động.

Người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động, chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp cũng thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và hướng dẫn của Chính phủ tại Nghị định 158/2025/NĐ-CP. Tuy nhiên, việc áp dụng còn phụ thuộc vào điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và các trường hợp loại trừ do pháp luật chuyên ngành quy định. Quy tắc này bảo đảm sự thống nhất giữa pháp luật trong nước và cam kết quốc tế.

Trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc

Theo Điều 33 và Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được phân định theo từng chủ thể: người sử dụng lao động đóng phần thuộc trách nhiệm của mình, người lao động đóng phần theo quy định, và trong một số trường hợp người lao động không làm việc theo quan hệ sử dụng lao động điển hình thì chủ thể quản lý, sử dụng hoặc đơn vị có trách nhiệm tổ chức đóng theo luật. Cơ chế này bảo đảm quỹ bảo hiểm được hình thành từ cả hai phía của quan hệ lao động, đồng thời phản ánh nguyên tắc chia sẻ nghĩa vụ giữa các bên.

Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải hằng tháng trích tiền đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ tiền lương của người lao động và cùng với phần đóng của mình nộp vào quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội 2024. Cách thức này thể hiện rõ vai trò trung tâm của người sử dụng lao động trong tổ chức thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm. Trường hợp người lao động thuộc diện do đơn vị, cơ quan, tổ chức quản lý thì chủ thể quản lý tương ứng phải thực hiện nghĩa vụ đóng đúng đối tượng, đúng mức và đúng thời hạn.

Đối với chủ hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh, Nghị định 158/2025/NĐ-CP xác định đây là nhóm tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ, qua đó đặt ra trách nhiệm trực tiếp của chính chủ hộ trong việc đăng ký và đóng bảo hiểm. Đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố, việc đóng được tổ chức theo cơ chế do pháp luật quy định, gắn với nguồn chi và chủ thể quản lý phù hợp. Với nhóm người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên và chức danh quản lý của hợp tác xã không hưởng tiền lương, trách nhiệm đóng được xác định theo quan hệ pháp lý cụ thể và hướng dẫn của văn bản dưới luật.

Căn cứ đóng, phương thức và yêu cầu tuân thủ

Căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thường được xác định từ tiền lương, tiền công hoặc khoản thu nhập làm căn cứ đóng theo từng nhóm đối tượng. Nghị định 158/2025/NĐ-CP quy định chi tiết cách xác định tiền lương làm căn cứ đóng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, bao gồm tiền lương thỏa thuận trong hợp đồng và các khoản bổ sung được pháp luật tính vào căn cứ đóng theo nguyên tắc chung của Luật Bảo hiểm xã hội 2024. Việc xác định đúng căn cứ đóng có ý nghĩa trực tiếp đối với mức hưởng sau này của người lao động.

Người sử dụng lao động có trách nhiệm đăng ký, kê khai, khấu trừ, đóng đủ và đúng hạn; đồng thời quản lý hồ sơ bảo hiểm xã hội của người lao động theo yêu cầu của cơ quan bảo hiểm xã hội. Người lao động có trách nhiệm phối hợp cung cấp thông tin, tham gia đầy đủ và bảo lưu quyền lợi khi thay đổi công việc, thay đổi nơi làm việc hoặc ra nước ngoài. Trong trường hợp cố tình chậm đóng, trốn đóng hoặc kê khai không đúng đối tượng, chủ thể vi phạm phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật có liên quan.

Những điểm pháp lý cần lưu ý trong thực tiễn

Thứ nhất, việc xác định quan hệ lao động không phụ thuộc hoàn toàn vào tên gọi của hợp đồng mà phụ thuộc vào bản chất việc làm có trả công, tiền lương và có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên. Đây là nguyên tắc quan trọng khi kiểm tra tính đúng đắn của việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Thứ hai, đối tượng tham gia đã được mở rộng đáng kể từ Luật Bảo hiểm xã hội 2024, vì vậy doanh nghiệp và đơn vị sử dụng lao động phải rà soát lại toàn bộ nhóm lao động thời vụ, bán thời gian, quản lý không hưởng lương và người làm việc theo thỏa thuận có dấu hiệu của quan hệ việc làm. Thứ ba, từ ngày 01/7/2025, việc áp dụng được thực hiện theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và Nghị định 158/2025/NĐ-CP, nên các quy trình nội bộ về nhân sự, tiền lương và đóng bảo hiểm cần được điều chỉnh đồng bộ. Sự tuân thủ đúng ngay từ giai đoạn đầu giúp giảm thiểu tranh chấp, truy thu và xử phạt sau này.

Kết luận

Bảo hiểm xã hội bắt buộc là nghĩa vụ pháp lý trung tâm trong quan hệ lao động và quản lý nhân sự, đồng thời là công cụ bảo vệ hữu hiệu quyền an sinh của người lao động. Luật Bảo hiểm xã hội 2024 cùng Nghị định 158/2025/NĐ-CP đã mở rộng và cụ thể hóa đáng kể các nhóm đối tượng phải tham gia, nhất là các mô hình việc làm mới và nhóm chủ thể quản lý không hưởng tiền lương. Việc xác định đúng đối tượng, đúng căn cứ và đúng trách nhiệm đóng là yêu cầu bắt buộc đối với mọi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân thuộc diện điều chỉnh của pháp luật.

Tài liệu tham khảo

  • Luật Bảo hiểm xã hội 2024 số 41/2024/QH15.
  • Nghị định số 158/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc.
  • Cổng thông tin Bảo hiểm xã hội Việt Nam, chuyên mục giới thiệu và tin tức về Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
  • Cổng thông tin điện tử Chính phủ, văn bản Nghị định 158/2025/NĐ-CP.
  • Hệ thống cơ sở dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tư pháp.

Câu hỏi thường gặp

Ai là đối tượng phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo pháp luật hiện hành?
Người lao động, cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, người lao động đi làm việc ở nước ngoài, chủ hộ kinh doanh và một số chức danh quản lý theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
Người làm việc theo hợp đồng có tên gọi khác có phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không?
Có, nếu nội dung thể hiện việc làm có trả công, tiền lương và có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên theo khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
Ai có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động?
Người sử dụng lao động trích nộp phần của người lao động và đóng phần thuộc trách nhiệm của mình theo Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
Chủ hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh có phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc không?
Có. Chủ hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh thuộc nhóm tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và Nghị định 158/2025/NĐ-CP.
Nếu doanh nghiệp chậm đóng bảo hiểm xã hội thì bị xử lý thế nào?
Doanh nghiệp phải nộp đủ, nộp đúng hạn và chịu trách nhiệm theo quy định về truy thu, xử phạt và các chế tài liên quan của pháp luật bảo hiểm xã hội.