Bán điện dư từ điện mặt trời mái nhà: điều kiện, giới hạn sản lượng và giá mua

Điều kiện, giới hạn 20% và cơ chế giá mua điện dư từ điện mặt trời mái nhà theo pháp luật hiện hành.

Tổng quan

Cơ chế bán điện dư từ hệ thống điện mặt trời mái nhà đã được pháp luật hiện hành quy định rõ theo hướng khuyến khích tự sản, tự tiêu, đồng thời cho phép bán phần điện dư vào hệ thống điện quốc gia. Khung pháp lý năm 2026 tập trung vào ba vấn đề cốt lõi: điều kiện được bán, giới hạn tỷ lệ sản lượng được thanh toán và nguyên tắc xác định giá mua. Bài viết hệ thống hóa các quy định đang có hiệu lực, đồng thời phân biệt cơ chế giá mua theo từng nhóm hệ thống và từng giai đoạn vận hành. Từ đó, nội dung cung cấp căn cứ tra cứu và áp dụng cho hộ gia đình, cơ sở sản xuất, tổ chức, cá nhân đang khai thác điện mặt trời mái nhà.

Cơ sở pháp lý điều chỉnh việc bán điện dư

Cơ chế bán điện dư từ điện mặt trời mái nhà hiện được đặt trong khung pháp luật về điện lực và phát triển năng lượng tái tạo. Văn bản trung tâm là Nghị định 58/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo, cùng các văn bản hướng dẫn, công bố giá của Tập đoàn Điện lực Việt Nam và đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện quốc gia.

Về nguyên tắc, pháp luật không mặc nhiên coi toàn bộ sản lượng điện mặt trời mái nhà là hàng hóa để bán ra ngoài hệ thống. Cách tiếp cận chủ đạo là tự sản, tự tiêu; phần điện dư chỉ được bán khi đáp ứng đúng điều kiện pháp luật quy định, đúng đối tượng mua và đúng giới hạn thanh toán.

Điều kiện để được bán phần điện dư

Theo khoản 1 Điều 10 Nghị định 58/2025/NĐ-CP, nguồn điện mặt trời mái nhà có đấu nối với hệ thống điện quốc gia, thuộc phạm vi quy hoạch và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, vận hành theo quy định thì được xem xét bán sản lượng điện dư cho bên mua điện dư. Quy định này phản ánh rõ bản chất của cơ chế bán điện dư: việc đấu nối phải hợp pháp, hệ thống phải bảo đảm an toàn vận hành và hoạt động theo các tiêu chuẩn quản lý chuyên ngành.

Đối với nhóm hệ thống điện mặt trời mái nhà là tài sản công, quy định hiện hành loại trừ hoặc siết chặt khả năng bán điện dư theo cơ chế thông thường. Bên cạnh đó, các dự án ở khu vực vùng sâu, vùng xa hoặc nơi chưa được cấp điện đầy đủ được đặt trong cơ chế riêng, không áp dụng máy móc hạn mức thông thường nếu văn bản chuyên ngành quy định khác.

Trên phương diện thực thi, chủ đầu tư cần bảo đảm hồ sơ đấu nối, nghiệm thu, công tơ đo đếm và điều kiện vận hành đúng yêu cầu của bên mua điện dư và đơn vị quản lý lưới. Nếu thiếu các điều kiện này, phần điện phát ra có thể chỉ được ghi nhận cho mục đích kỹ thuật mà không đủ căn cứ thanh toán.

Giới hạn sản lượng điện được bán

Theo khoản 4 Điều 10 Nghị định 58/2025/NĐ-CP, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều này, sản lượng điện dư được bán không vượt quá 20% sản lượng điện phát tại đầu ra của nguồn điện mặt trời mái nhà theo cường độ bức xạ, được xác định tại đầu ra của bộ chuyển đổi nghịch lưu, bao gồm cả sản lượng điện lưu trữ nếu có. Đây là giới hạn trọng tâm của cơ chế bán điện dư trong giai đoạn áp dụng Nghị định 58.

Giới hạn 20% cho thấy pháp luật ưu tiên mô hình dùng điện tại chỗ, chỉ cho phép bán một phần điện phát sinh vượt nhu cầu tiêu thụ. Cách tính được đặt tại đầu ra của bộ nghịch lưu để bảo đảm tính khách quan, đồng thời loại trừ cách hiểu dựa trên sản lượng ước tính chủ quan của bên lắp đặt.

Quy định ngoại lệ tại khoản 5 và khoản 6 Điều 10 dành cho một số nhóm đặc thù, nhất là khu vực chưa được cấp điện đầy đủ hoặc vùng sâu, vùng xa. Vì vậy, khi áp dụng thực tiễn cần kiểm tra đúng loại dự án và địa bàn triển khai trước khi xác định hạn mức bán điện dư.

Tác động của hệ thống lưu trữ điện

Pháp luật hiện hành xác định giới hạn bán điện dư bao gồm cả sản lượng điện lưu trữ trong hệ thống lưu trữ điện nếu có. Điều này có nghĩa là việc lắp thêm pin lưu trữ không làm vô hiệu hóa giới hạn thanh toán, mà chỉ thay đổi đặc tính vận hành của hệ thống. Do đó, chủ đầu tư không thể dùng cấu hình lưu trữ để chuyển hóa toàn bộ sản lượng thành điện bán lên lưới.

Giá mua điện dư được xác định như thế nào

Theo khoản 4 Điều 10 Nghị định 58/2025/NĐ-CP, giá mua bán sản lượng điện dư là giá điện năng thị trường điện bình quân trong năm trước liền kề do đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện công bố, nhưng không cao hơn mức giá tối đa của khung giá điện mặt trời mặt đất. Đây là cơ chế giá theo thị trường, khác với cơ chế giá FIT cố định trước đây.

Về mặt pháp lý, công thức này tạo ra hai tầng kiểm soát. Tầng thứ nhất là giá bình quân thị trường của năm trước liền kề; tầng thứ hai là trần không vượt khung giá phát điện mặt trời mặt đất tương ứng. Như vậy, giá mua điện dư không phải là mức do các bên tự thỏa thuận tùy ý, mà bị ràng buộc bởi công bố của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền.

Trong năm 2026, EVN đã công bố mức giá mua đối với một số hệ thống điện mặt trời mái nhà đang vận hành theo các giai đoạn lịch sử trước đây là 2.348 đồng/kWh và 2.105 đồng/kWh, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Với cơ chế bán điện dư theo Nghị định 58, giá áp dụng cho phần điện dư lại được xác định theo giá điện năng thị trường bình quân của năm trước liền kề và trần khung giá tương ứng, thay vì đồng nhất với các mức FIT lịch sử.

Phân biệt cơ chế giá theo từng nhóm hệ thống

Cần phân biệt hai nhóm tình huống pháp lý. Nhóm thứ nhất là các hệ thống đã vận hành từ các giai đoạn trước và vẫn đang được EVN thông báo giá mua theo cơ chế chuyển tiếp hoặc văn bản riêng cho từng thời kỳ. Nhóm thứ hai là phần điện dư của hệ thống hiện nay được điều chỉnh trực tiếp bởi Nghị định 58/2025/NĐ-CP, với giá mua theo thị trường bình quân và giới hạn trần.

Sự phân biệt này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi xác định hóa đơn, hợp đồng mua bán điện, thời điểm ghi chỉ số công tơ và căn cứ thanh toán. Nếu nhầm lẫn giữa cơ chế giá lịch sử và cơ chế giá hiện hành, chủ đầu tư dễ đánh giá sai hiệu quả tài chính của hệ thống. Do đó, phải đối chiếu đúng thời điểm vận hành, loại nguồn điện và văn bản điều chỉnh tương ứng.

Ý nghĩa pháp lý đối với hộ gia đình và cơ sở sản xuất

Đối với hộ gia đình, quy định hiện hành tạo điều kiện cho việc tận dụng phần điện không sử dụng hết nhưng vẫn giữ nguyên định hướng tự tiêu là chủ đạo. Mô hình đầu tư điện mặt trời mái nhà vì vậy phải được tính toán trên cơ sở nhu cầu dùng điện thực tế, thay vì kỳ vọng doanh thu bán điện là nguồn thu chính.

Đối với doanh nghiệp và cơ sở sản xuất, giới hạn 20% đòi hỏi thiết kế hệ thống phải bám sát phụ tải tiêu thụ nội bộ. Việc lựa chọn công suất lắp đặt vượt xa nhu cầu sử dụng sẽ làm tăng rủi ro dư thừa điện mà không được thanh toán tương ứng. Về quản trị hợp đồng, chủ đầu tư cần lưu ý nghĩa vụ nghiệm thu, đo đếm, vận hành và đối soát sản lượng với bên mua điện dư.

Kết luận

Pháp luật hiện hành cho phép bán điện dư từ điện mặt trời mái nhà nhưng đặt trong khuôn khổ chặt chẽ về điều kiện đấu nối, loại dự án, giới hạn sản lượng và cơ chế định giá. Nguyên tắc cốt lõi là ưu tiên tự sản, tự tiêu; chỉ phần điện dư hợp lệ mới được thanh toán và mức thanh toán bị ràng buộc bởi giá thị trường bình quân cùng khung giá trần. Khi áp dụng trong thực tiễn, cần xác định đúng văn bản điều chỉnh theo thời điểm vận hành và đúng nhóm hệ thống để bảo đảm tính pháp lý của việc bán điện dư.

Tài liệu tham khảo

  • Nghị định 58/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo.
  • Văn bản công bố giá mua điện mặt trời mái nhà năm 2026 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam.
  • Văn bản công bố giá điện năng thị trường bình quân năm trước liền kề của đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện quốc gia.
  • Luật Điện lực hiện hành.
  • Khung giá phát điện mặt trời mặt đất do cơ quan có thẩm quyền ban hành cho giai đoạn tương ứng.

Câu hỏi thường gặp

Điện mặt trời mái nhà có được bán điện dư cho EVN không?
Có, nếu hệ thống đáp ứng điều kiện đấu nối, kỹ thuật và thuộc phạm vi được phép theo Nghị định 58/2025/NĐ-CP. Phần điện dư hợp lệ mới được thanh toán.
Được bán tối đa bao nhiêu phần trăm sản lượng điện phát ra?
Trừ trường hợp ngoại lệ, mức bán không vượt quá 20% sản lượng điện phát tại đầu ra của nguồn điện mặt trời mái nhà theo quy định tại khoản 4 Điều 10 Nghị định 58/2025/NĐ-CP.
Giá mua điện dư được tính như thế nào?
Giá mua là giá điện năng thị trường điện bình quân của năm trước liền kề do đơn vị điều hành công bố, nhưng không vượt quá giá tối đa của khung giá điện mặt trời mặt đất.
Có áp dụng giá FIT cố định cho điện dư năm 2026 không?
Không. Cơ chế hiện hành đối với phần điện dư là cơ chế giá thị trường bình quân có trần, không phải giá FIT cố định như các giai đoạn trước.
Lắp thêm pin lưu trữ có làm tăng hạn mức bán điện dư không?
Không. Giới hạn thanh toán vẫn tính theo quy định hiện hành và bao gồm cả sản lượng điện lưu trữ nếu có.