Án phí ly hôn thuận tình và đơn phương: ai nộp, nộp bao nhiêu?
Giải đáp ai nộp, nộp bao nhiêu khi ly hôn thuận tình và đơn phương theo quy định hiện hành.
Tổng quan
Án phí và lệ phí trong các việc ly hôn được xác định khác nhau tùy theo tính chất của quan hệ tranh chấp, cách Tòa án giải quyết và việc có yêu cầu về tài sản hay không. Đối với ly hôn đơn phương, nguyên đơn là người chịu án phí sơ thẩm theo quy định tố tụng dân sự; đối với ly hôn thuận tình, vợ chồng có thể thỏa thuận người nộp, nếu không thỏa thuận được thì mỗi bên chịu một nửa. Mức tiền cơ bản hiện hành trong trường hợp không có tranh chấp tài sản là 300.000 đồng; nếu có tranh chấp tài sản thì án phí được tính theo giá ngạch. Việc xác định đúng nghĩa vụ nộp án phí giúp đương sự chủ động tài chính và hạn chế tranh chấp phát sinh trong quá trình giải quyết ly hôn.Khái quát về án phí trong vụ việc ly hôn
Trong thực tiễn tố tụng hôn nhân và gia đình, cần phân biệt giữa án phí và lệ phí để xác định đúng nghĩa vụ tài chính của đương sự. Với ly hôn đơn phương, Tòa án giải quyết bằng vụ án ly hôn, nên áp dụng án phí dân sự sơ thẩm. Với ly hôn thuận tình, Tòa án giải quyết bằng việc dân sự, nên áp dụng lệ phí Tòa án theo quy định hiện hành.
Cách xác định người nộp và số tiền phải nộp không chỉ phụ thuộc vào hình thức ly hôn mà còn phụ thuộc vào việc các bên có tranh chấp tài sản hay không. Khi có yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung hoặc các yêu cầu có giá ngạch khác, nghĩa vụ tài chính được tính theo từng phần việc cụ thể. Vì vậy, việc xem xét án phí phải đặt trong đúng cấu trúc tố tụng của từng hồ sơ ly hôn.
Ly hôn đơn phương: ai phải nộp án phí?
Theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Quy định này xác lập nguyên tắc rất rõ: người khởi kiện ly hôn đơn phương là người nộp tạm ứng án phí và là chủ thể chịu án phí sơ thẩm khi Tòa án giải quyết vụ án.
Nếu trong vụ án có phản tố hoặc yêu cầu độc lập về tài sản, án phí đối với phần yêu cầu đó được xác định theo kết quả giải quyết từng yêu cầu và theo quy định về án phí có giá ngạch. Trường hợp chỉ yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân, không yêu cầu chia tài sản, nghĩa vụ tài chính thường chỉ dừng ở mức án phí sơ thẩm không có giá ngạch. Do đó, người khởi kiện cần xác định rõ phạm vi yêu cầu ngay từ đầu để dự liệu chi phí tố tụng.
Mức án phí trong ly hôn đơn phương không có tranh chấp tài sản
Theo Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng. Đây là mức áp dụng phổ biến khi vợ chồng chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết việc chấm dứt hôn nhân mà không có tranh chấp tài sản.
Trong trường hợp có yêu cầu về tài sản, mức án phí phần tài sản không còn cố định 300.000 đồng mà được tính theo giá trị tài sản có tranh chấp. Khi đó, khoản tiền người khởi kiện phải nộp ban đầu là tiền tạm ứng án phí, còn nghĩa vụ cuối cùng sẽ được xác định theo bản án hoặc quyết định của Tòa án. Cần lưu ý rằng án phí phần tài sản và án phí phần hôn nhân là hai cấu phần khác nhau trong cùng một vụ án.
Mức án phí khi ly hôn đơn phương có tranh chấp tài sản
Khi có tranh chấp tài sản, án phí được tính theo biểu mức lũy tiến tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Theo khung này, với phần tài sản có giá trị từ trên 6 triệu đồng đến 400 triệu đồng, án phí là 5% giá trị tài sản tranh chấp; các ngưỡng cao hơn được tính theo công thức lũy tiến tương ứng. Cách tính này áp dụng cho phần tài sản mà Tòa án phải giải quyết, không áp dụng cho toàn bộ quan hệ hôn nhân.
Trong thực tiễn, người nộp tạm ứng án phí thường là nguyên đơn. Sau khi Tòa án phân định phần tài sản được chấp nhận hoặc không chấp nhận, án phí cuối cùng sẽ được xác định theo nghĩa vụ của bên thua kiện đối với từng phần yêu cầu. Vì vậy, ly hôn đơn phương có tài sản luôn làm phát sinh rủi ro chi phí cao hơn nhiều so với ly hôn chỉ yêu cầu công nhận chấm dứt hôn nhân.
Ly hôn thuận tình: ai nộp lệ phí?
Đối với yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, pháp luật hiện hành đặt trọng tâm vào cơ chế thỏa thuận giữa vợ chồng. Theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, vợ chồng có thể thỏa thuận về việc nộp tiền tạm ứng lệ phí Tòa án; nếu không thỏa thuận được thì mỗi người nộp một nửa. Cách tiếp cận này phản ánh bản chất không đối kháng của việc dân sự trong trường hợp thuận tình ly hôn.
Về nguyên tắc, khi Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn, lệ phí Tòa án được phân bổ theo thỏa thuận của đương sự hoặc theo quy định chia đều nếu không có thỏa thuận. Như vậy, người nào nộp ban đầu không quyết định hoàn toàn nghĩa vụ cuối cùng; điều quan trọng là nội dung thỏa thuận trong hồ sơ và quyết định của Tòa án. Đây là điểm khác biệt cơ bản so với ly hôn đơn phương.
Mức lệ phí trong ly hôn thuận tình không có tranh chấp tài sản
Trong trường hợp thuận tình ly hôn không có yêu cầu giải quyết tài sản, lệ phí Tòa án hiện hành là 300.000 đồng. Nếu vợ chồng không thỏa thuận khác, mỗi bên phải chịu 150.000 đồng. Mức này cũng thường được áp dụng khi các bên chỉ yêu cầu Tòa án công nhận việc chấm dứt quan hệ vợ chồng mà không đặt ra tranh chấp phụ.
Nếu có thỏa thuận về tài sản, nuôi con hoặc nghĩa vụ khác, phần lệ phí liên quan đến việc dân sự vẫn có thể giữ nguyên ở mức cơ bản, còn phần tranh chấp tài sản sẽ được xử lý theo quy tắc án phí có giá ngạch. Vì vậy, khi lập hồ sơ thuận tình ly hôn, cần tách bạch rõ yêu cầu công nhận ly hôn với các thỏa thuận kèm theo để tránh nhầm lẫn trong tính phí.
So sánh ngắn giữa ly hôn thuận tình và đơn phương
Ly hôn đơn phương là vụ án nên người khởi kiện phải chịu án phí sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Ly hôn thuận tình là việc dân sự nên hai bên có thể thỏa thuận người nộp, nếu không thỏa thuận được thì chia đôi theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Về mức tiền cơ bản, trường hợp không có tranh chấp tài sản đều gắn với mức 300.000 đồng.
Sự khác biệt lớn nhất nằm ở cơ chế chịu phí và cách xác định chủ thể nộp ban đầu. Trong ly hôn đơn phương, nguyên đơn là người nộp tạm ứng và thường là người gánh trước nghĩa vụ tố tụng. Trong ly hôn thuận tình, nghĩa vụ tài chính được phân bổ mềm dẻo hơn theo sự thống nhất của hai bên.
Các trường hợp phát sinh chi phí cao hơn mức cơ bản
Chi phí ly hôn không dừng ở 300.000 đồng khi hồ sơ có tranh chấp tài sản hoặc yêu cầu Tòa án phân chia khối tài sản chung có giá trị lớn. Khi đó, án phí được tính theo giá trị tài sản tranh chấp và tăng theo bậc lũy tiến. Ngoài ra, nếu có nhiều yêu cầu độc lập, phản tố hoặc tranh chấp nợ chung, tổng nghĩa vụ nộp có thể thay đổi đáng kể.
Trong trường hợp được miễn, giảm án phí, lệ phí theo các điều kiện của pháp luật, đương sự không phải nộp hoặc chỉ nộp một phần tương ứng. Việc miễn, giảm không làm thay đổi bản chất vụ án hay việc dân sự mà chỉ tác động đến nghĩa vụ tài chính của người phải nộp. Do đó, cần kiểm tra đồng thời quy định về đối tượng miễn, giảm và quy định về mức thu để xác định chính xác số tiền phải nộp.
Kết luận
Về nguyên tắc, ly hôn đơn phương thì nguyên đơn nộp án phí sơ thẩm; ly hôn thuận tình thì vợ chồng thỏa thuận người nộp, nếu không thỏa thuận được thì mỗi người chịu một nửa. Với trường hợp không tranh chấp tài sản, mức cơ bản hiện hành là 300.000 đồng. Khi có tranh chấp tài sản, án phí được tính theo giá ngạch nên số tiền phải nộp sẽ cao hơn và cần xác định theo từng yêu cầu cụ thể.
Tài liệu tham khảo
- Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
- Các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
- Thực tiễn áp dụng của Tòa án nhân dân trong giải quyết vụ án, việc dân sự về hôn nhân và gia đình.