Ai có quyền đề nghị xây dựng luật tại Việt Nam?

Làm rõ chủ thể có quyền đề nghị xây dựng luật tại Việt Nam theo pháp luật hiện hành 2026.

Tổng quan

Trong quy trình lập pháp ở Việt Nam, quyền đề nghị xây dựng luật là bước khởi đầu quan trọng để hình thành chương trình lập pháp hằng năm. Chủ thể có quyền này được xác định tương đối chặt chẽ trong Hiến pháp và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Bài viết làm rõ nhóm chủ thể có quyền đề nghị xây dựng luật, phân biệt với quyền trình dự án luật và nêu ý nghĩa pháp lý của cơ chế này trong hoạt động lập pháp. Nội dung cập nhật theo hệ thống pháp luật hiện hành có hiệu lực đến năm 2026.

Khái niệm và vị trí của quyền đề nghị xây dựng luật

Trong hoạt động lập pháp, đề nghị xây dựng luật là bước thể hiện nhu cầu ban hành luật, sửa đổi luật hoặc bổ sung luật từ các chủ thể có thẩm quyền. Đây là khâu tiền lập pháp, có vai trò định hướng chương trình xây dựng luật của Nhà nước, bảo đảm việc lập pháp xuất phát từ yêu cầu quản lý, điều chỉnh quan hệ xã hội và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Về mặt pháp lý, quyền đề nghị xây dựng luật không đồng nhất với quyền biểu quyết thông qua luật và cũng khác với quyền kiến nghị, góp ý chính sách của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Chỉ những chủ thể được luật định mới có quyền chính thức đưa ra đề nghị xây dựng luật để xem xét đưa vào chương trình lập pháp. Cơ chế này nhằm bảo đảm tính thống nhất, trách nhiệm chính trị và chất lượng của chương trình xây dựng pháp luật.

Chủ thể có quyền đề nghị xây dựng luật

Theo khoản 1 Điều 32 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025, các chủ thể có quyền trình dự án luật trước Quốc hội, trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội thì có quyền đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Nhóm chủ thể này gồm: Chủ tịch nước; Ủy ban thường vụ Quốc hội; Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; Chính phủ; Tòa án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Kiểm toán nhà nước; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận.

Như vậy, trong phạm vi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, pháp luật hiện hành xác lập một nhóm chủ thể có thẩm quyền chính thức, gắn trực tiếp với năng lực trình dự án luật, dự án pháp lệnh. Đây là điểm then chốt để phân biệt đề nghị xây dựng luật với kiến nghị chính sách của các cơ quan khác. Các chủ thể này đều là những thiết chế có vị trí hiến định hoặc pháp định trong bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị.

Ngoài các chủ thể nêu trên, đại biểu Quốc hội cũng có quyền đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo khoản 2 Điều 32 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025. Quy định này thể hiện vai trò trực tiếp của đại biểu Quốc hội trong việc khởi xướng sáng kiến lập pháp, bảo đảm chức năng đại diện nhân dân trong hoạt động làm luật. Vì vậy, quyền đề nghị xây dựng luật ở Việt Nam không chỉ thuộc về cơ quan nhà nước mà còn thuộc về từng đại biểu Quốc hội với tư cách chủ thể độc lập của quyền lập pháp.

Phân biệt quyền đề nghị xây dựng luật và quyền trình dự án luật

Trong thực tiễn, hai thuật ngữ này thường được sử dụng gần nhau nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Quyền đề nghị xây dựng luật là quyền đề xuất đưa một chính sách, lĩnh vực hoặc vấn đề lập pháp vào chương trình xây dựng luật. Trong khi đó, quyền trình dự án luật là quyền đưa hồ sơ dự án luật đã được chuẩn bị đầy đủ ra cơ quan có thẩm quyền xem xét.

Khoản 1 Điều 32 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 cho thấy pháp luật gắn chặt quyền đề nghị xây dựng luật với các chủ thể có quyền trình dự án luật. Cách thiết kế này phản ánh yêu cầu thống nhất giữa chủ thể khởi xướng và chủ thể chịu trách nhiệm về chất lượng hồ sơ lập pháp. Đồng thời, nó hạn chế tình trạng đề xuất tùy nghi, thiếu căn cứ hoặc không bảo đảm khả năng chuyển hóa thành dự án luật.

Ý nghĩa của quy định về chủ thể đề nghị xây dựng luật

Quy định về chủ thể có quyền đề nghị xây dựng luật góp phần bảo đảm tính chặt chẽ của quy trình lập pháp. Khi thẩm quyền được xác định rõ, chương trình xây dựng luật có cơ sở để tập trung vào những vấn đề thực sự cần thiết, thuộc đúng phạm vi chức năng, nhiệm vụ của từng chủ thể. Điều này nâng cao tính khả thi và tính dự báo của hoạt động xây dựng pháp luật.

Quy định này cũng bảo đảm sự phân công hợp lý giữa các thiết chế quyền lực nhà nước. Quốc hội giữ vai trò cơ quan làm luật, còn các chủ thể có quyền đề nghị xây dựng luật cung cấp sáng kiến, nhu cầu lập pháp và hồ sơ chính sách ban đầu. Cách tổ chức này phù hợp với nguyên tắc nhà nước pháp quyền, trong đó quyền lực được phân công, phối hợp và kiểm soát.

Đối với đại biểu Quốc hội, quyền đề nghị xây dựng luật là một biểu hiện cụ thể của quyền sáng kiến lập pháp. Quyền này giúp đại biểu chủ động phản ánh yêu cầu từ cử tri, thực tiễn quản lý và những vấn đề mới phát sinh trong đời sống xã hội. Qua đó, hoạt động lập pháp có thêm kênh phản hồi trực tiếp từ thực tiễn.

Một số điểm cần lưu ý trong áp dụng

Thứ nhất, không phải mọi cơ quan, tổ chức đều có quyền chính thức đề nghị xây dựng luật. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc nhóm chủ thể được luật định chỉ có thể gửi kiến nghị, phản ánh hoặc đề xuất chính sách tới chủ thể có thẩm quyền. Việc phân biệt đúng thẩm quyền giúp tránh nhầm lẫn giữa quyền dân chủ tham gia xây dựng pháp luật và quyền lập pháp theo nghĩa pháp lý.

Thứ hai, quyền đề nghị xây dựng luật phải được thực hiện trong khuôn khổ thủ tục do luật quy định. Hồ sơ đề nghị cần bảo đảm căn cứ chính trị, pháp lý và thực tiễn, đồng thời phù hợp định hướng xây dựng pháp luật của Nhà nước. Đây là điều kiện để đề nghị được xem xét đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

Thứ ba, trong trường hợp liên quan đến sửa đổi Hiến pháp, cơ chế thẩm quyền được quy định riêng tại khoản 1 Điều 120 Hiến pháp năm 2013. Theo đó, Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp. Quy định này cho thấy thẩm quyền đề nghị sửa đổi Hiến pháp được đặt ở cấp độ đặc biệt, chặt chẽ hơn so với quy trình xây dựng luật thông thường.

Kết luận

Ai có quyền đề nghị xây dựng luật tại Việt Nam đã được pháp luật hiện hành xác định rõ. Theo khoản 1 Điều 32 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025, quyền này thuộc về Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận; khoản 2 Điều 32 cùng luật còn trao quyền này cho đại biểu Quốc hội. Cơ chế đó bảo đảm tính chính thống của sáng kiến lập pháp và nâng cao chất lượng chương trình xây dựng luật của Nhà nước.

Tài liệu tham khảo

  • Hiến pháp năm 2013.
  • Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025.
  • Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025.
  • Quốc hội Việt Nam: Chương trình và tài liệu về hoạt động lập pháp.
  • Cổng thông tin Chính phủ: Chuyên mục xây dựng pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

Ai là chủ thể có quyền đề nghị xây dựng luật tại Việt Nam?
Các chủ thể gồm Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, TAND tối cao, VKSND tối cao, Kiểm toán nhà nước, MTTQ Việt Nam và tổ chức thành viên, cùng đại biểu Quốc hội.
Đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị xây dựng luật không?
Có. Khoản 2 Điều 32 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 ghi nhận đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.
Quyền đề nghị xây dựng luật khác gì quyền trình dự án luật?
Đề nghị xây dựng luật là bước khởi xướng chính sách, còn trình dự án luật là đưa hồ sơ dự án đã chuẩn bị đầy đủ ra cơ quan có thẩm quyền xem xét.
Cơ quan, tổ chức không có thẩm quyền có được đề nghị xây dựng luật không?
Không theo nghĩa thẩm quyền chính thức. Họ chỉ có thể kiến nghị, phản ánh hoặc đề xuất tới chủ thể có quyền theo luật định.
Ai có quyền đề nghị sửa đổi Hiến pháp?
Theo khoản 1 Điều 120 Hiến pháp năm 2013, Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp.