Điều 8 Bộ luật hình sự 2015: Khái niệm tội phạm

Bình luận Điều 8 BLHS 2015 về khái niệm tội phạm, ngưỡng xử lý hình sự và các dấu hiệu cần có khi áp dụng.

Điều 8. Khái niệm tội phạm

1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

Trọng tâm của Điều 8

Điều 8 không chỉ định nghĩa tội phạm mà còn xác lập ngưỡng hình sự hóa của hành vi. Một hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi đồng thời đáp ứng các dấu hiệu cốt lõi: có tính nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật Hình sự, do chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện, và thuộc trường hợp phải bị xử lý hình sự.

Điểm cần nắm là luật không hình sự hóa mọi hành vi sai phạm. Chỉ những hành vi xâm phạm các quan hệ xã hội được liệt kê trong Điều 8 và đạt mức độ nguy hiểm đáng kể mới bị coi là tội phạm; ngược lại, hành vi tuy có dấu hiệu nhưng nguy hiểm không đáng kể thì được xử lý bằng biện pháp khác.

Ý nghĩa lập pháp

Quy định này thể hiện quan điểm phân hóa trách nhiệm hình sự, bảo đảm chỉ dùng chế tài hình sự cho những hành vi thật sự cần thiết. Cách tiếp cận đó giúp giữ vai trò “biện pháp cuối cùng” của luật hình sự, đồng thời hạn chế việc áp dụng hình sự một cách máy móc đối với các vi phạm nhỏ.

Về mặt thực tiễn, Điều 8 là căn cứ đầu tiên khi đánh giá một vụ việc có nên chuyển sang hướng xử lý hình sự hay không. Nếu chưa vượt qua được ngưỡng nguy hiểm cho xã hội theo Điều 8, việc khởi tố hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự là không phù hợp với bản chất của quy định.

Các dấu hiệu phải kiểm tra khi áp dụng

  • Có hành vi cụ thể: phải là hành vi thực tế, không chỉ là ý định hoặc trạng thái tâm lý.
  • Được BLHS quy định: hành vi phải rơi vào nhóm hành vi mà Bộ luật Hình sự đã mô tả là tội phạm.
  • Đúng chủ thể: người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại theo điều kiện luật định.
  • Có lỗi: hành vi được thực hiện cố ý hoặc vô ý, tùy cấu thành của từng tội.
  • Đủ mức nguy hiểm: nếu tính chất nguy hiểm không đáng kể thì không coi là tội phạm.

Những hiểu nhầm thường gặp

Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng cứ có dấu hiệu vi phạm pháp luật là mặc nhiên thành tội phạm. Thực tế, Điều 8 yêu cầu thêm điều kiện về mức độ nguy hiểm và sự ghi nhận trong BLHS; thiếu một trong các yếu tố này thì chưa đủ căn cứ hình sự.

Nhầm lẫn thứ hai là đồng nhất mọi hành vi gây thiệt hại với tội phạm. Trong thực tiễn, nhiều hành vi chỉ dừng ở mức xử phạt hành chính, bồi thường dân sự hoặc xử lý nội bộ nếu chưa đạt ngưỡng nguy hiểm mà Điều 8 đặt ra.

Lưu ý khi áp dụng vào tình huống cụ thể

Khi xem xét một vụ việc, cần đi từ mô tả hành vi sang đối chiếu điều luật, rồi mới đánh giá mức độ nguy hiểm và chủ thể thực hiện. Nếu chỉ tập trung vào hậu quả mà bỏ qua dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm, kết luận dễ bị lệch.

Trong các trường hợp biên giới giữa tội phạm và vi phạm khác, Điều 8 là căn cứ để ưu tiên nguyên tắc thận trọng, tránh hình sự hóa quan hệ xã hội không đến mức cần xử lý hình sự. Đây là điểm đặc biệt quan trọng khi đánh giá những vụ việc có giá trị thiệt hại nhỏ, hậu quả hạn chế hoặc nhân thân người thực hiện có tình tiết cho thấy mức độ nguy hiểm không lớn.

Điều 8 dùng để xác định điều gì?
Điều 8 xác định thế nào là tội phạm và ranh giới để một hành vi bị xử lý hình sự, thay vì chỉ xử phạt hành chính hoặc áp dụng biện pháp khác.
Chỉ cần có hành vi vi phạm là đã là tội phạm chưa?
Chưa. Hành vi phải được Bộ luật Hình sự quy định, có mức độ nguy hiểm cho xã hội đáng kể và đáp ứng điều kiện về chủ thể, lỗi, ngưỡng xử lý.
Hành vi có dấu hiệu tội phạm nhưng thiệt hại nhỏ thì xử lý thế nào?
Nếu tính chất nguy hiểm không đáng kể, hành vi không bị coi là tội phạm và được xử lý bằng biện pháp khác theo khoản 2 Điều 8.
Pháp nhân thương mại có thể là chủ thể của tội phạm không?
Có. Điều 8 ghi nhận pháp nhân thương mại là một chủ thể có thể thực hiện tội phạm nếu đáp ứng điều kiện luật định.
Mục lục văn bản