Điều 76 Bộ luật hình sự 2015: Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Bình luận Điều 76 BLHS 2015 về phạm vi trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, điều kiện áp dụng và lưu ý thực tiễn.

Điều 76. Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225, 226, 227, 232, 234, 235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245, 246, 300 và 324 của Bộ luật này.

Phạm vi truy cứu được giới hạn rõ

Điều 76 không trao thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự một cách chung cho mọi hành vi của pháp nhân thương mại, mà chỉ áp dụng đối với các tội danh được liệt kê cụ thể trong luật. Đây là kỹ thuật lập pháp theo hướng liệt kê đóng, bảo đảm pháp nhân chỉ bị xử lý hình sự trong những lĩnh vực mà hành vi vi phạm thường gắn với tổ chức, quy trình, lợi ích doanh nghiệp và tác động xã hội rộng.

Vì vậy, khi gặp một vụ việc liên quan đến doanh nghiệp, không được suy luận rằng cứ có thiệt hại là pháp nhân đương nhiên bị truy cứu hình sự. Phải đối chiếu đúng điều luật tội phạm trong danh mục của Điều 76, rồi mới xem xét đến các điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại theo BLHS.

Trọng tâm cần nắm khi áp dụng

Ý nghĩa thực tiễn lớn nhất của Điều 76 là xác định ranh giới chịu trách nhiệm giữa cá nhân và pháp nhân. Không phải mọi tội phạm do người quản lý, người lao động hay người đại diện thực hiện trong môi trường doanh nghiệp đều làm phát sinh trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Chỉ khi hành vi thuộc đúng tội danh được liệt kê và thỏa mãn điều kiện truy cứu đối với pháp nhân thương mại thì mới đặt ra trách nhiệm hình sự của pháp nhân.

Danh mục tại Điều 76 tập trung vào các nhóm hành vi thường gắn với hoạt động của tổ chức kinh doanh, như vi phạm trong lĩnh vực kinh tế, môi trường, chứng khoán, bảo hiểm và trật tự công cộng. Cách thiết kế này cho thấy nhà làm luật không hình sự hóa tràn lan hoạt động của doanh nghiệp, mà lựa chọn những hành vi có khả năng được thực hiện nhân danh tổ chức và mang lại lợi ích cho tổ chức.

Điều kiện “kích hoạt” trách nhiệm

Điều 76 chỉ là cửa ngõ về phạm vi tội danh; để truy cứu được pháp nhân thương mại, vẫn phải kiểm tra thêm các điều kiện của BLHS về việc hành vi được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân, có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân, và còn trong thời hiệu truy cứu. Thiếu một trong các điều kiện này thì không thể mặc nhiên suy ra trách nhiệm hình sự của pháp nhân.

Trong thực tiễn, đây là điểm dễ nhầm lẫn nhất: hành vi của một cá nhân trong doanh nghiệp không đồng nghĩa với hành vi của pháp nhân. Cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ mối liên hệ giữa hành vi phạm tội với ý chí tổ chức, lợi ích tổ chức và cơ chế chấp thuận, điều hành của pháp nhân.

Lưu ý thực tiễn

Khi áp dụng Điều 76, cần đặc biệt tránh hai sai lầm: một là, đồng nhất mọi vi phạm trong doanh nghiệp với trách nhiệm hình sự của pháp nhân; hai là, chỉ nhìn vào hậu quả thiệt hại mà bỏ qua danh mục tội danh được luật định. Đây là điều khoản mang tính lọc phạm vi, không phải điều khoản tự thân tạo ra trách nhiệm cho mọi trường hợp.

Trong hồ sơ vụ việc, bước kiểm tra đúng thứ tự là: xác định điều luật tội danh cụ thể, đối chiếu có nằm trong Điều 76 hay không, rồi mới xem xét các điều kiện truy cứu đối với pháp nhân thương mại. Cách tiếp cận này bảo đảm áp dụng thống nhất và tránh mở rộng trách nhiệm hình sự vượt quá giới hạn luật định.

Pháp nhân thương mại có bị truy cứu hình sự với mọi tội phạm không?
Không. Pháp nhân thương mại chỉ bị truy cứu với các tội danh được liệt kê tại Điều 76 Bộ luật Hình sự 2015.
Chỉ cần nhân viên phạm tội trong doanh nghiệp là pháp nhân bị xử lý?
Không. Phải chứng minh hành vi gắn với nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân và có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận.
Điều 76 có tự đủ để xác định trách nhiệm hình sự của pháp nhân không?
Không. Điều 76 chỉ xác định phạm vi tội danh; còn phải áp dụng các điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại.
Nếu hành vi gây hậu quả lớn nhưng không nằm trong danh mục Điều 76 thì sao?
Không thể truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo cơ chế này; cần xem xét trách nhiệm cá nhân hoặc trách nhiệm pháp lý khác.
Mục lục văn bản