Điều 75 Bộ luật hình sự 2015: Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Bình luận Điều 75 BLHS 2015 về điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại và các lưu ý áp dụng thực tiễn.

Điều 75. Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

1. Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;

b) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;

c) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;

d) Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này.

2. Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.

Trọng tâm của điều luật

Điều 75 không nhằm mở rộng trách nhiệm hình sự một cách tràn lan, mà nhằm xác định rõ khi nào hành vi của cá nhân được “quy chiếu” sang pháp nhân thương mại. Nhà làm luật chỉ chấp nhận truy cứu khi hành vi mang dấu hiệu của tổ chức và phục vụ lợi ích của chính pháp nhân, chứ không phải mọi vi phạm xảy ra trong doanh nghiệp đều làm phát sinh trách nhiệm cho pháp nhân.

Vì vậy, điều luật này có ý nghĩa như một bộ lọc pháp lý: chỉ khi hội đủ đồng thời các điều kiện luật định thì mới đặt vấn đề xử lý hình sự pháp nhân thương mại. Cách tiếp cận này phản ánh quan điểm phân hóa trách nhiệm, bảo đảm xử lý đúng chủ thể chịu lợi ích và chịu sự điều hành thực tế của hành vi phạm tội.

Các điều kiện phải chứng minh

Muốn áp dụng Điều 75, cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ bốn yếu tố cốt lõi. Thứ nhất, hành vi phải được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại, tức là dưới danh nghĩa, tư cách hoặc biểu hiện đại diện cho pháp nhân. Thứ hai, hành vi phải nhằm vì lợi ích của pháp nhân thương mại, thường thể hiện ở mục tiêu thu lợi nhuận, tiết kiệm chi phí, giành lợi thế kinh doanh hoặc bảo vệ lợi ích tổ chức.

Thứ ba, hành vi phải có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; đây là dấu hiệu then chốt để phân biệt với hành vi tự ý của cá nhân. Thứ tư, việc truy cứu phải còn trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 và khoản 3 Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015. Thiếu một trong bốn điều kiện này thì không đủ căn cứ xử lý hình sự pháp nhân.

Dễ nhầm lẫn trong thực tiễn

Nhầm lẫn phổ biến nhất là cho rằng cứ người quản lý, người đại diện hay nhân viên của doanh nghiệp phạm tội thì pháp nhân tự động bị truy cứu. Cách hiểu này không đúng, vì điều luật đòi hỏi phải chứng minh mối liên hệ giữa hành vi phạm tội với ý chí và lợi ích của pháp nhân. Nếu cá nhân tự ý thực hiện hành vi vì mục đích riêng thì trách nhiệm hình sự trước hết thuộc về cá nhân đó.

Nhầm lẫn thứ hai là coi trách nhiệm của pháp nhân và cá nhân là thay thế cho nhau. Khoản 2 Điều 75 khẳng định rõ việc pháp nhân thương mại bị truy cứu không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân liên quan. Do đó, trong một vụ án có thể đồng thời xử lý cả pháp nhân và người thực hành, người chỉ đạo hoặc người chấp thuận tùy theo vai trò cụ thể.

Lưu ý khi áp dụng

Khi đánh giá một tình huống cụ thể, cần phân tích theo hướng “ai quyết định, ai hưởng lợi, ai nhân danh, ai chấp thuận”. Đây là bốn trục thực tế để kiểm tra tính phù hợp của Điều 75. Nếu chứng cứ chỉ thể hiện hành vi vi phạm của cá nhân trong nội bộ doanh nghiệp mà không chứng minh được sự chấp thuận hoặc lợi ích của pháp nhân, việc quy kết cho pháp nhân sẽ thiếu cơ sở.

Trong thực tiễn, Điều 75 thường được áp dụng cùng với Điều 76 Bộ luật Hình sự 2015, vì không phải mọi tội phạm đều đặt ra trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Do đó, ngoài việc thỏa mãn các điều kiện tại Điều 75, còn phải kiểm tra pháp nhân có thuộc nhóm tội danh mà luật cho phép truy cứu hay không.

Giá trị thực tiễn cần nhớ

  • Điều 75 là điều kiện “đầu vào” để xác định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.
  • Trọng tâm không nằm ở việc có vi phạm hay không, mà ở chỗ vi phạm có gắn với ý chí và lợi ích của pháp nhân hay không.
  • Trách nhiệm của pháp nhân không loại trừ trách nhiệm của cá nhân liên quan.
Khi nào pháp nhân thương mại bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
Chỉ khi có đủ bốn điều kiện tại Điều 75: nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân, có chỉ đạo/điều hành/chấp thuận, và còn thời hiệu truy cứu.
Người đại diện của công ty phạm tội thì công ty có luôn bị xử lý không?
Không. Cần chứng minh hành vi được thực hiện nhân danh và vì lợi ích của pháp nhân, đồng thời có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân.
Pháp nhân bị truy cứu rồi thì cá nhân liên quan có được miễn trách nhiệm không?
Không. Khoản 2 Điều 75 xác định trách nhiệm hình sự của pháp nhân không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân liên quan.
Điều 75 có áp dụng cho mọi tội phạm không?
Không. Ngoài Điều 75, còn phải đối chiếu Điều 76 Bộ luật Hình sự 2015 về các tội mà pháp nhân thương mại có thể bị truy cứu.
Mục lục văn bản