Điều 63 Bộ luật hình sự 2015: Giảm mức hình phạt đã tuyên

Bình luận ngắn gọn Điều 63 BLHS 2015 về giảm mức hình phạt đã tuyên, điều kiện xét giảm án và các mốc chấp hành bắt buộc.

Điều 63. Giảm mức hình phạt đã tuyên

1.[25] Người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt.

Người bị kết án tù chung thân về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ chỉ có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt khi đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và đã hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù có thời hạn, 12 năm đối với tù chung thân.

2. Một người có thể được giảm nhiều lần, nhưng phải bảo đảm chấp hành được một phần hai mức hình phạt đã tuyên.

Người bị kết án tù chung thân, lần đầu được giảm xuống 30 năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 20 năm.

3. Trường hợp người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án phạt tù chung thân thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu xuống 30 năm tù sau khi đã chấp hành được 15 năm tù và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành là 25 năm.

4. Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được một phần hai mức hình phạt chung.

5. Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được hai phần ba mức hình phạt chung hoặc trường hợp hình phạt chung là tù chung thân thì việc xét giảm án thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều này.

6.[26] Đối với người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật này thì thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm.

Ý nghĩa của quy định

Điều 63 Bộ luật Hình sự 2015 thiết kế cơ chế giảm mức hình phạt đã tuyên như một chính sách nhân đạo có điều kiện, gắn việc hưởng khoan hồng với quá trình chấp hành án thực tế. Tinh thần xuyên suốt là không xóa bỏ bản án, mà chỉ điều chỉnh mức phải chấp hành khi người bị kết án đã chứng minh được sự cải tạo và thái độ khắc phục hậu quả. Cách tiếp cận này bảo đảm vừa tạo động lực thi hành án, vừa giữ nguyên tính nghiêm minh của hình phạt.

Điều kiện để được xét giảm án

Để được xem xét, người bị kết án phải đáp ứng đồng thời các dấu hiệu cốt lõi: đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự. Việc giảm án chỉ được đặt ra theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, nên đây không phải quyền tự yêu cầu trực tiếp của người chấp hành án. Trên thực tế, điều kiện về bồi thường thường được hiểu là phải khắc phục được tối thiểu một phần đáng kể nghĩa vụ dân sự theo bản án.

Mốc thời gian và giới hạn bắt buộc

Điểm mấu chốt của Điều 63 là mỗi loại hình phạt đều có ngưỡng tối thiểu để được xét giảm lần đầu. Với cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn và tù chung thân, luật ấn định các mốc riêng; đồng thời người được giảm nhiều lần vẫn phải bảo đảm chấp hành một phần tối thiểu của mức hình phạt đã tuyên. Như vậy, giảm án không đồng nghĩa với việc chấm dứt thi hành án sớm tùy ý, mà luôn bị khóa bởi giới hạn thực tế mà luật đặt ra.

Những trường hợp bị siết chặt

Pháp luật dành sự kiểm soát nghiêm ngặt hơn đối với người phạm tội có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, nhất là các trường hợp bị kết án tù chung thân về tham ô tài sản, nhận hối lộ hoặc người bị kết án tử hình được ân giảm. Với các trường hợp này, việc xét giảm chỉ đặt ra khi người chấp hành án đã nộp lại phần tài sản đáng kể, hợp tác tích cực hoặc lập công lớn, đồng thời phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành rất dài. Điều đó cho thấy mục tiêu của Điều 63 không chỉ là khoan hồng, mà còn là thúc đẩy hoàn trả tài sản và hỗ trợ đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng.

Những điểm dễ hiểu sai

Không nên hiểu Điều 63 là cơ chế tự động giảm án khi người bị kết án có biểu hiện cải tạo tốt. Tòa án chỉ xem xét khi đã đủ điều kiện luật định và có đề nghị hợp lệ từ cơ quan có thẩm quyền. Cũng không thể đồng nhất “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” với mọi mức bồi thường rất nhỏ; khi áp dụng cần đối chiếu bản án, quyết định thi hành án và hồ sơ khắc phục hậu quả cụ thể.

Lưu ý khi áp dụng thực tiễn

Trong thực tiễn, trọng tâm của Điều 63 không nằm ở cảm nhận chủ quan về tiến bộ, mà ở hồ sơ thi hành án, tài liệu bồi thường, đánh giá chấp hành và văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự. Khi tư vấn hoặc xem xét hồ sơ, cần kiểm tra đúng loại hình phạt, đúng mốc chấp hành lần đầu, và giới hạn tối thiểu phải bảo đảm sau mỗi lần giảm. Đây là điều khoản mang tính kỹ thuật cao, nên chỉ cần sai một điều kiện là yêu cầu giảm án không thể được chấp nhận.

Điều 63 áp dụng cho những ai?
Áp dụng cho người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn, tù chung thân và một số trường hợp tử hình được ân giảm, nếu đủ điều kiện luật định.
Có thể xin giảm án trực tiếp tại Tòa án không?
Không. Việc xét giảm phải có đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền rồi Tòa án mới xem xét quyết định.
Chỉ cần cải tạo tốt là được giảm án không?
Không. Phải đồng thời đủ thời gian chấp hành tối thiểu, có tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự theo hồ sơ thi hành án.
Người bị tù chung thân có thể được giảm bao nhiêu lần?
Có thể được giảm nhiều lần, nhưng vẫn phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành tối thiểu theo từng trường hợp luật định.
Vì sao tội tham ô, nhận hối lộ bị siết chặt hơn?
Vì pháp luật yêu cầu người phạm các tội này phải khắc phục hậu quả tài sản và có hợp tác tích cực thì mới được xem xét khoan hồng.
Mục lục văn bản