Điều 6 Bộ luật hình sự 2015: Hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Bình luận Điều 6 BLHS 2015 về hiệu lực ngoài lãnh thổ: công dân Việt Nam, người nước ngoài, tàu bay, tàu biển và điều ước quốc tế.

Điều 6. Hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1. Công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Bộ luật này quy định là tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này.

Quy định này cũng được áp dụng đối với người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam.

2. Người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

3. Đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định.

Trọng tâm của Điều 6

Điều 6 thể hiện chủ trương mở rộng hiệu lực của Bộ luật Hình sự theo hướng không chỉ gắn với lãnh thổ, mà còn gắn với quốc tịchlợi ích được bảo vệ. Đây là cơ chế pháp lý để xử lý các hành vi phạm tội có yếu tố nước ngoài nhưng vẫn liên quan trực tiếp đến công dân, pháp nhân Việt Nam hoặc lợi ích của Nhà nước Việt Nam.

Điểm quan trọng nhất cần nắm là Điều 6 không tự động áp dụng cho mọi hành vi xảy ra ở nước ngoài. Việc truy cứu chỉ đặt ra khi đáp ứng đúng nhóm điều kiện mà điều luật quy định, đặc biệt là tư cách chủ thể phạm tội, tính chất xâm hại và căn cứ từ điều ước quốc tế. Cách thiết kế này nhằm bảo đảm chủ quyền hình sự của Việt Nam nhưng vẫn tôn trọng nguyên tắc không can thiệp và thông lệ hợp tác quốc tế.

Những trường hợp được “kích hoạt”

Khoản 1 điều luật ưu tiên áp dụng đối với công dân Việt Nampháp nhân thương mại Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam. Quy định này cũng mở rộng cho người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam, cho thấy nhà làm luật coi sự gắn bó thực tế với Việt Nam là căn cứ để đặt họ trong phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Hình sự.

Khoản 2 đặt ra căn cứ riêng đối với người nước ngoàipháp nhân thương mại nước ngoài. Chỉ khi hành vi của họ xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam, xâm hại lợi ích của Việt Nam, hoặc khi điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định thì mới xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam.

Khoản 3 là quy định đặc thù cho hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam ở biển cả hoặc vùng trời ngoài lãnh thổ Việt Nam. Ở trường hợp này, điều luật không mở rộng hiệu lực một cách độc lập mà đặt việc áp dụng phụ thuộc vào điều ước quốc tế có liên quan.

Điểm cần tránh hiểu nhầm

Không nên hiểu rằng cứ phạm tội ở nước ngoài là đương nhiên bị xử lý theo pháp luật Việt Nam. Điều 6 yêu cầu phải kiểm tra đồng thời chủ thể, địa điểm, tính chất xâm hạicăn cứ điều ước quốc tế nếu thuộc các trường hợp đặc thù.

Cũng không nên đồng nhất Điều 6 với nguyên tắc lãnh thổ tại Điều 5 Bộ luật Hình sự 2015. Điều 5 điều chỉnh hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam, còn Điều 6 chỉ xử lý trường hợp ngoài lãnh thổ nhưng có mối liên hệ pháp lý đủ chặt với Việt Nam.

Trong thực tiễn, yếu tố thường bị bỏ sót là cơ sở hợp tác quốc tế. Với nhiều vụ án có yếu tố nước ngoài, việc khởi tố, điều tra, dẫn độ hoặc tương trợ tư pháp còn phụ thuộc vào điều ước quốc tế, thỏa thuận song phương và khả năng thu thập chứng cứ từ nước ngoài.

Lưu ý khi áp dụng

Khi xử lý một tình huống cụ thể, cần xác định trước hết tội danh mà Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định, sau đó đối chiếu xem hành vi xảy ra ở ngoài lãnh thổ có rơi vào đúng nhóm chủ thể và căn cứ của khoản tương ứng hay không. Nếu thiếu một trong các điều kiện đó, không thể mặc nhiên áp dụng Điều 6.

Đối với hành vi trên tàu bay, tàu biển ngoài lãnh thổ, cần kiểm tra trước nội dung điều ước quốc tế có liên quan vì đây là điều kiện trực tiếp để phát sinh hiệu lực truy cứu. Đây là điểm thể hiện rõ sự phối hợp giữa pháp luật hình sự quốc gia và pháp luật quốc tế trong xử lý tội phạm xuyên biên giới.

Công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài có bị xử lý theo pháp luật Việt Nam không?
Có, nếu hành vi đó là tội phạm theo Bộ luật Hình sự Việt Nam. Điều 6 khoản 1 cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam đối với công dân Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh thổ.
Người nước ngoài phạm tội ở nước ngoài có bị xử lý tại Việt Nam không?
Chỉ trong trường hợp hành vi xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam, xâm hại lợi ích của Việt Nam, hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định.
Người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam có thuộc Điều 6 không?
Có. Điều 6 khoản 1 áp dụng tương tự đối với người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam khi họ phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển ngoài lãnh thổ được xử lý thế nào?
Chỉ áp dụng khi điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định. Đây là trường hợp phụ thuộc trực tiếp vào điều ước quốc tế.
Điều 6 có giống nguyên tắc áp dụng trong lãnh thổ không?
Không. Điều 5 áp dụng cho tội phạm trong lãnh thổ Việt Nam, còn Điều 6 chỉ điều chỉnh hành vi ở ngoài lãnh thổ nhưng có liên hệ pháp lý với Việt Nam.
Mục lục văn bản