Điều 47 Bộ luật hình sự 2015: Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm

Bình luận Điều 47 BLHS 2015 về tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, phân biệt tịch thu và trả lại tài sản.

Điều 47. Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm

1. Việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy được áp dụng đối với:

a) Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;

b) Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội;

c) Vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ,[14] cấm lưu hành.

2. Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.

3. Vật, tiền là tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu.

Ý nghĩa của quy định

Điều 47 thể hiện quan điểm xử lý không chỉ người phạm tội mà còn xử lý lợi ích vật chất trực tiếp gắn với tội phạm. Mục tiêu là loại bỏ công cụ phạm tội, triệt tiêu nguồn thu bất chính và ngăn chặn việc hợp pháp hóa tài sản bất hợp pháp. Đây là biện pháp tư pháp, nên trọng tâm không phải trừng phạt con người mà là xử lý đúng tình trạng pháp lý của vật, tiền liên quan đến hành vi phạm tội.

Trong thực tiễn, điều luật này đặc biệt quan trọng ở khâu quyết định số phận vật chứng. Cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định đúng nguồn gốc, mục đích sử dụng và chủ thể sở hữu của tài sản trước khi quyết định tịch thu hay trả lại. Nếu xác định sai, bản án hoặc quyết định dễ xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp hoặc bỏ lọt tài sản phải bị xử lý.

Những trường hợp bị tịch thu

Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội là nhóm tài sản điển hình bị tịch thu sung ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy. Điểm mấu chốt là tài sản đó đã được dùng như phương tiện thực hiện tội phạm, không phụ thuộc vào việc nó có giá trị kinh tế hay không. Nếu vật đó còn giá trị sử dụng bình thường nhưng gắn chặt với việc phạm tội, việc tịch thu sung công là hướng xử lý phù hợp.

Vật, tiền do phạm tội mà có, hoặc do mua bán, đổi chác từ những thứ đó mà có, cũng thuộc diện tịch thu. Quy định này nhằm cắt đứt chuỗi lợi ích phát sinh từ hành vi phạm tội và không để người phạm tội hưởng lợi từ hậu quả do chính mình tạo ra. Khoản thu lợi bất chính từ tội phạm là đối tượng cần thu hồi triệt để, không phải tài sản để người phạm tội tiếp tục giữ lại.

Vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành thì không chỉ bị tịch thu mà thường là tịch thu để tiêu hủy. Đây là nhóm tài sản mà bản thân việc tồn tại, lưu giữ hoặc lưu thông đã bị pháp luật loại trừ. Khi áp dụng, cần phân biệt rõ giữa vật “không được phép sở hữu” với vật “được phép sở hữu nhưng bị sử dụng trái phép trong vụ án”.

Trường hợp phải trả lại tài sản

Khoản 2 của Điều 47 là điểm rất dễ bị áp dụng sai: vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép thì không tịch thu, mà phải trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Nghĩa là tài sản hợp pháp của người bị hại không mất đi tính hợp pháp chỉ vì đã bị dùng trong vụ án. Căn cứ trọng tâm ở đây là quyền sở hữu hợp pháp của chủ tài sản, không phải việc tài sản đang xuất hiện trong hồ sơ vụ án.

Vì vậy, không được đồng nhất mọi vật chứng liên quan đến tội phạm với tài sản phải tịch thu. Nếu tài sản chỉ là đối tượng bị chiếm đoạt, mượn trái phép, lấy trộm hoặc sử dụng trái phép, hướng xử lý đúng là trả lại, đồng thời xem xét trách nhiệm bồi thường nếu có thiệt hại phát sinh theo quy định liên quan. Nhầm lẫn phổ biến là coi “đã dùng trong vụ án” thì đương nhiên bị sung công; cách hiểu này không đúng với khoản 2 Điều 47.

Tài sản của người khác nhưng vẫn có thể bị tịch thu

Khoản 3 xử lý trường hợp tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng chủ sở hữu có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc phạm tội. Điểm then chốt ở đây là phải có lỗi của chủ tài sản, tức có sự thiếu trách nhiệm, đồng thuận hoặc buông lỏng đến mức tạo điều kiện cho tội phạm xảy ra. Không phải cứ tài sản của người thứ ba là được miễn tịch thu tuyệt đối.

Quy định này nhằm bảo đảm công bằng và ngăn việc lợi dụng danh nghĩa “tài sản của người khác” để che chắn cho hành vi tạo điều kiện phạm tội. Tuy nhiên, lỗi của chủ tài sản phải được chứng minh trong hồ sơ vụ án, không thể suy đoán từ việc tài sản xuất hiện trong tay người phạm tội. Đây là điều kiện quan trọng để tránh mở rộng tịch thu vượt quá giới hạn pháp luật cho phép.

Lưu ý khi áp dụng

Điều 47 chỉ nên được áp dụng sau khi đã làm rõ ba vấn đề: tài sản đó là công cụ phạm tội, là sản phẩm của tội phạm hay là tài sản hợp pháp bị chiếm đoạt/sử dụng trái phép; ai là chủ sở hữu hợp pháp; và có hay không lỗi của chủ sở hữu trong việc để tài sản bị dùng vào việc phạm tội. Nếu chưa làm rõ ba điểm này, quyết định xử lý vật, tiền rất dễ sai bản chất. Trong thực tiễn xét xử, đây là điều khoản đòi hỏi đánh giá chứng cứ cụ thể, không áp dụng máy móc theo tên gọi của vật chứng.

Một hiểu lầm khác là coi Điều 47 như quy định về hình phạt. Thực tế đây là biện pháp tư pháp, nên mục đích chính là xử lý tài sản gắn với tội phạm, không phải xác định mức độ nguy hiểm của người phạm tội như khi áp dụng hình phạt. Vì vậy, khi lập luận trong hồ sơ hoặc bản án, cần tách bạch rõ giữa phần xử lý trách nhiệm hình sự của bị cáo và phần xử lý vật chứng theo Điều 47.

Điểm cần nhớ khi vận dụng thực tế

  • Xác định đúng bản chất của tài sản: công cụ phạm tội, tài sản do phạm tội mà có hay tài sản bị chiếm đoạt/sử dụng trái phép.
  • Ưu tiên trả lại tài sản hợp pháp cho chủ sở hữu nếu tài sản chỉ bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép.
  • Chỉ tịch thu tài sản của người khác khi chứng minh được lỗi của chủ sở hữu trong việc để tài sản bị dùng vào tội phạm.
  • Không nhầm giữa tịch thu sung công, tịch thu tiêu hủy và trả lại vật chứng.
Điều 47 áp dụng cho những loại tài sản nào?
Áp dụng với công cụ, phương tiện phạm tội; vật, tiền do phạm tội mà có; khoản thu lợi bất chính; và vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành.
Tài sản bị người phạm tội lấy trộm thì có bị tịch thu không?
Không. Tài sản bị chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép phải trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, không tịch thu sung công.
Tài sản của người khác có thể bị tịch thu trong trường hợp nào?
Khi chủ sở hữu có lỗi trong việc để người phạm tội sử dụng tài sản đó vào việc thực hiện tội phạm, tài sản này có thể bị tịch thu.
Điều 47 có phải là hình phạt không?
Không. Đây là biện pháp tư pháp về xử lý vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, tách biệt với hình phạt áp dụng cho người phạm tội.
Có phải cứ vật chứng trong vụ án hình sự là bị tịch thu không?
Không. Chỉ vật, tiền thuộc diện luật định mới bị tịch thu; tài sản hợp pháp bị chiếm đoạt hoặc dùng trái phép thì phải trả lại.
Mục lục văn bản