Điều 38 Bộ luật hình sự 2015: Tù có thời hạn
Bình luận ngắn gọn Điều 38 BLHS 2015 về tù có thời hạn, giới hạn mức án, khấu trừ tạm giữ tạm giam và ngoại lệ không áp dụng.
Điều 38. Tù có thời hạn
1. Tù có thời hạn là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định.
Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là 03 tháng và mức tối đa là 20 năm.
Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù.
2. Không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng.
Trọng tâm của Điều 38
Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tù có thời hạn như một hình phạt tước tự do, áp dụng bằng việc buộc người bị kết án chấp hành án tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn xác định. Đây là loại hình phạt cơ bản, thường được Tòa án cân nhắc khi hành vi phạm tội đã đủ nghiêm trọng để cần cách ly người phạm tội khỏi xã hội nhưng chưa đến mức phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc hơn. Cách thiết kế điều luật cho thấy mục tiêu kép: trừng trị, răn đe nhưng vẫn giữ giới hạn để bảo đảm tính nhân đạo của chính sách hình sự.
Giới hạn và cách tính thời hạn
Điểm mấu chốt khi áp dụng Điều 38 là mức tối thiểu 03 tháng và tối đa 20 năm đối với hình phạt tù có thời hạn cho một tội danh. Giới hạn này giúp Tòa án lượng hình trong khuôn khổ rõ ràng, tránh việc tuyên phạt tù quá ngắn làm giảm ý nghĩa giáo dục hoặc quá dài làm mất tính tương xứng. Đồng thời, thời gian tạm giữ, tạm giam phải được trừ vào thời hạn chấp hành án theo nguyên tắc 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù, đây là điểm rất quan trọng khi tính án thực tế.
Điều kiện để không áp dụng tù có thời hạn
Khoản 2 Điều 38 thể hiện một ngoại lệ có tính chính sách: không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng. Muốn kích hoạt ngoại lệ này, phải đồng thời đáp ứng cả ba điều kiện; thiếu một điều kiện thì không thuộc trường hợp loại trừ. Quy định này nhằm ưu tiên xử lý nhẹ hơn với người có lỗi vô ý, mức độ nguy hiểm không lớn, nhân thân và nơi cư trú ổn định.
Những điểm dễ hiểu sai
Không nên nhầm tù có thời hạn với việc “ngồi bao lâu tùy ý” của Tòa án; đây là hình phạt bị giới hạn chặt bởi khung luật và nguyên tắc cá thể hóa hình phạt. Cũng không nên hiểu rằng cứ bị tạm giam trước khi xét xử thì thời gian đó đương nhiên là một phần của án; việc khấu trừ chỉ thực hiện khi đã có bản án tù có thời hạn và phải tính đúng theo quy định. Một nhầm lẫn khác là coi khoản 2 Điều 38 là quy định miễn trách nhiệm hình sự; thực chất đây chỉ là định hướng không áp dụng hình phạt tù trong trường hợp đủ điều kiện.
Lưu ý khi áp dụng trong thực tiễn
Khi nghiên cứu một vụ án cụ thể, cần tách bạch ba vấn đề: loại tội danh, tính chất lỗi và nhân thân người phạm tội để xác định có thuộc trường hợp được loại trừ theo khoản 2 hay không. Nếu không thuộc ngoại lệ, Tòa án vẫn phải lượng hình trong giới hạn 03 tháng đến 20 năm và ghi nhận chính xác thời gian tạm giữ, tạm giam để khấu trừ. Trong thực tiễn, Điều 38 thường là điểm xuất phát để tiếp tục xem xét các cơ chế như án treo, giảm thời hạn chấp hành án hoặc tổng hợp hình phạt, nhưng bản thân điều luật này chỉ xác lập khuôn khổ của hình phạt tù có thời hạn.