Điều 378 Bộ luật hình sự 2015: Tội tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù

Bình luận Điều 378 BLHS 2015 về tội tha trái pháp luật người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án tù.

Điều 378. Tội tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù[384], thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

b) Người được tha trái pháp luật bỏ trốn hoặc có hành vi cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;

c) Người được tha trái pháp luật trả thù người có thẩm quyền tiến hành tố tụng[385], người tham gia tố tụng;

d) Tha trái pháp luật từ 02 người đến 05 người.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Tha trái pháp luật 06 người trở lên;

b) Người được tha trái pháp luật thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Ý nghĩa của điều luật

Điều 378 đặt ra ranh giới rất rõ giữa quyền quyết định hợp pháp của người có thẩm quyền và hành vi tha người trái luật. Nhà làm luật xử lý nghiêm vì việc thả sai đối tượng không chỉ xâm phạm hoạt động quản lý giam giữ mà còn làm suy giảm hiệu lực điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.

Điều luật này hướng vào việc bảo vệ kỷ luật công vụ trong các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ sở giam giữ và thi hành án. Vì vậy, dấu hiệu trung tâm không nằm ở việc người bị tha là ai, mà nằm ở chủ thể có thẩm quyềnhành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền để cho tha trái pháp luật.

Dấu hiệu cần có để áp dụng

Để cấu thành tội này, trước hết người thực hiện phải là người có chức vụ, quyền hạn hoặc người được giao thẩm quyền liên quan đến việc quản lý, quyết định việc tha, trả tự do hoặc chấm dứt việc giam giữ. Nếu không có thẩm quyền mà chỉ hỗ trợ, che giấu, tiếp tay thì thường phải xem xét theo tội danh khác, không mặc nhiên áp dụng Điều 378.

Tiếp theo, phải có hành vi tha trái pháp luật, tức quyết định hoặc hành động giải phóng người đang bị bắt, tạm giữ, tạm giam hoặc đang chấp hành án tù trái với căn cứ pháp luật. Đây là tội phạm có tính chất chức vụ, nên yếu tố cố ý và việc nhận thức rõ tính trái pháp luật của hành vi là điểm then chốt trong thực tiễn chứng minh.

Điểm cần phân biệt

Không phải mọi sai sót nghiệp vụ dẫn đến việc người bị giam giữ ra khỏi nơi giam đều là tội phạm. Chỉ khi có sự lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền để làm trái quy định thì mới đặt ra trách nhiệm hình sự theo Điều 378.

Cũng cần phân biệt với các vi phạm về thủ tục, chậm ban hành quyết định, sai sót hành chính hoặc nhầm lẫn trong áp dụng pháp luật. Những trường hợp này chỉ bị xử lý hình sự khi đủ căn cứ chứng minh tính trái pháp luật, lỗi cố ý và mối liên hệ trực tiếp giữa thẩm quyền bị lạm dụng với hậu quả tha người sai luật.

Khung hình phạt và cách nhìn thực tiễn

Khung cơ bản của điều luật tương đối nhẹ hơn nhiều tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp khác, nhưng mức tăng nặng lại rất đáng kể khi người được tha thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, hoặc sau khi được tha tiếp tục bỏ trốn, cản trở tố tụng, trả thù, hoặc thực hiện thêm tội phạm. Điều đó cho thấy nhà làm luật không chỉ xử lý hành vi thả trái phép mà còn đánh giá nguy cơ xã hội phát sinh từ hậu quả của việc thả sai người.

Các tình tiết định khung như tha từ 02 người đến 05 người, tha 06 người trở lên, hoặc người được tha tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng là những dấu hiệu cần kiểm tra rất kỹ khi định tội và định khung. Trong thực tiễn, đây là điểm dễ nhầm lẫn nếu chỉ nhìn vào hậu quả tức thời mà bỏ qua tính chất của người được tha và hành vi tiếp theo của họ.

Lưu ý khi áp dụng

Điều 378 không nhằm xử lý người ban hành quyết định trái ý kiến nội bộ, mà nhằm xử lý hành vi trái pháp luật có tính lạm quyền, làm sai lệch cơ chế kiểm soát việc tước tự do. Vì vậy, khi đánh giá vụ việc cần làm rõ: ai có thẩm quyền, căn cứ nào để tha, hành vi nào vượt quá thẩm quyền, và kết quả tha trái luật xảy ra ở giai đoạn nào.

Hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phản ánh quan điểm ngăn ngừa tái phạm trong lĩnh vực có yêu cầu kỷ luật rất cao. Đây là chế tài thường có ý nghĩa lớn trong các vụ việc liên quan cán bộ, công chức, sĩ quan hoặc người làm công tác quản lý giam giữ.

Điều 378 áp dụng cho ai?
Áp dụng cho người có chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền, dùng thẩm quyền đó để tha trái pháp luật người đang bị bắt, tạm giữ, tạm giam hoặc chấp hành án tù.
Sai sót nghiệp vụ có bị coi là tội này không?
Không mặc nhiên. Chỉ khi có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền và việc tha người là trái pháp luật thì mới xem xét trách nhiệm hình sự.
Khi nào bị tăng nặng theo Điều 378?
Khi tha người về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; tha từ 02 người trở lên; hoặc người được tha bỏ trốn, cản trở tố tụng, trả thù, tiếp tục phạm tội.
Điều này có áp dụng nếu người được tha sau đó phạm tội không?
Có thể áp dụng khung nặng hơn nếu người được tha thực hiện tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; hành vi sau đó là dấu hiệu định khung quan trọng.
Có bị cấm giữ chức vụ sau khi phạm tội không?
Có. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm theo khoản 4 Điều 378.
Mục lục văn bản