Điều 370 Bộ luật hình sự 2015: Tội ra bản án trái pháp luật
Bình luận pháp lý ngắn gọn về Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015: dấu hiệu cấu thành, khung hình phạt và lưu ý áp dụng.
Điều 370. Tội ra bản án trái pháp luật
1. Thẩm phán, Hội thẩm nào ra bản án mà mình biết rõ là trái pháp luật, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2.[367] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;
c) Kết án oan người vô tội về tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng;
d) Bỏ lọt tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng; người phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội rất nghiêm trọng;
đ) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của bị cáo, người bị hại, đương sự mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
e) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
3.[368] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a) Kết án oan người vô tội về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
b) Bỏ lọt tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng;
c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của bị cáo, người bị hại, đương sự mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
d) Dẫn đến bị cáo, người bị hại, đương sự tự sát;
đ) Gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên.
4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Ý nghĩa của điều luật
Điều 370 nhằm bảo vệ tính đúng đắn của hoạt động xét xử và uy tín của tư pháp. Đây là quy định thể hiện yêu cầu đặc biệt cao đối với Thẩm phán, Hội thẩm vì bản án là kết quả cuối cùng, có khả năng trực tiếp làm phát sinh hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức.
Điểm cần nắm là điều luật không xử lý mọi sai lầm chuyên môn trong xét xử, mà chỉ xử lý trường hợp người có thẩm quyền biết rõ bản án trái pháp luật nhưng vẫn ban hành. Vì vậy, yếu tố chủ quan là dấu hiệu phân biệt cốt lõi giữa trách nhiệm hình sự và các dạng vi phạm tố tụng, kỷ luật hoặc trách nhiệm khác.
Dấu hiệu để áp dụng
Cấu thành cơ bản của tội này đòi hỏi chủ thể đặc biệt là Thẩm phán hoặc Hội thẩm; hành vi là ra bản án trái pháp luật; và quan trọng nhất là người đó nhận thức rõ tính trái pháp luật của bản án. Nếu chỉ có nhầm lẫn, đánh giá chứng cứ sai hoặc áp dụng pháp luật chưa chính xác nhưng không chứng minh được yếu tố biết rõ, điều luật này chưa được kích hoạt.
Trong thực tiễn, chứng cứ về ý chí chủ quan thường là phần khó nhất. Cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ người ra bản án đã nhận thức được sai phạm ở mức nào, có bỏ qua quy định bắt buộc hay cố ý chấp nhận hậu quả pháp lý trái luật hay không.
Trọng tâm của các khung hình phạt
Khoản 1 là khung cơ bản, áp dụng khi hành vi ra bản án trái pháp luật chưa kèm các tình tiết định khung tăng nặng. Các khoản 2 và 3 phản ánh quan điểm lập pháp là mức độ nguy hiểm tăng mạnh khi bản án trái luật dẫn đến oan sai, bỏ lọt tội phạm, xâm hại người yếu thế hoặc gây hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe, tinh thần, tài sản và trật tự xã hội.
Cần đặc biệt chú ý rằng tình tiết “kết án oan người vô tội” và “bỏ lọt tội phạm” được phân tầng theo tính chất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng của tội phạm. Điều này cho thấy trọng tâm đánh giá không chỉ nằm ở bản án trái luật, mà còn ở mức độ lệch lạc của kết quả xét xử đối với công lý hình sự.
Những hiểu sai thường gặp
Không phải mọi bản án bị sửa, bị hủy hoặc bị tuyên là sai đều đồng nghĩa với tội phạm theo Điều 370. Một phán quyết bị cấp trên sửa đổi vẫn có thể chỉ là sai lầm nghiệp vụ, nếu không chứng minh được người ra bản án biết rõ bản án trái pháp luật mà vẫn thực hiện.
Cũng không nên đồng nhất điều luật này với mọi vi phạm trong hoạt động xét xử. Những vi phạm về thủ tục, chậm trễ tố tụng hoặc sai sót đánh giá chứng cứ có thể dẫn đến trách nhiệm khác, nhưng chỉ khi đạt ngưỡng “biết rõ là trái pháp luật” và thỏa mãn yếu tố cấu thành thì mới đặt ra trách nhiệm hình sự theo Điều 370.
Hậu quả pháp lý kèm theo
Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Quy định này nhằm ngăn ngừa nguy cơ tái phạm trong hoạt động tư pháp và bảo đảm tính liêm chính của bộ máy xét xử.
Khi áp dụng trên thực tế, cần xác định rõ ba lớp vấn đề: chủ thể có đúng là người bị điều chỉnh hay không, có chứng minh được yếu tố biết rõ trái pháp luật hay không, và hậu quả cụ thể đã rơi vào khung nào. Đây là điều luật đòi hỏi đánh giá thận trọng, chặt chẽ, vì sai sót trong áp dụng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến công lý và quyền con người.