Điều 26 Bộ luật hình sự 2015: Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên

Bình luận Điều 26 BLHS 2015 về thi hành mệnh lệnh, điều kiện miễn trách nhiệm hình sự và các ngoại lệ quan trọng.

Điều 26. Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên

Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình sự.

Quy định này không áp dụng đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 421, khoản 2 Điều 422 và khoản 2 Điều 423 của Bộ luật này.

Ý nghĩa của quy định

Điều 26 là căn cứ loại trừ trách nhiệm hình sự mang tính đặc thù của môi trường quân đội, công an và nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Nhà làm luật bảo vệ tính thống nhất, kỷ luật và tính khẩn trương trong thi hành mệnh lệnh, nhưng vẫn yêu cầu người dưới quyền không được “phục tùng mù quáng”. Điểm cân bằng của điều luật là: phục tùng có điều kiện, và điều kiện đó phải được kiểm tra bằng cơ chế báo cáo lại mệnh lệnh.

Điều kiện để được miễn trách nhiệm

Muốn áp dụng Điều 26, phải đồng thời có các yếu tố cốt lõi sau: người thực hiện thuộc lực lượng vũ trang nhân dân; hành vi gây thiệt hại xảy ra khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên; mệnh lệnh phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; và người thi hành đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng vẫn bị yêu cầu chấp hành. Chỉ khi đủ các điều kiện này, người trực tiếp thi hành mới không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Ngược lại, nếu chưa báo cáo, báo cáo không đúng quy trình, hoặc chưa có căn cứ cho thấy đã yêu cầu xem xét lại mệnh lệnh, thì chưa đủ cơ sở áp dụng Điều 26. Đây là điểm mấu chốt thường bị bỏ qua trong thực tiễn, vì điều luật không miễn trách nhiệm cho mọi trường hợp “làm theo lệnh”.

Phạm vi và giới hạn áp dụng

Điều luật chỉ điều chỉnh mệnh lệnh trong nội bộ lực lượng vũ trang nhân dân và gắn với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; không mở rộng sang các quan hệ hành chính, lao động hay chỉ đạo thông thường trong các cơ quan, tổ chức khác. Đồng thời, quy định này không áp dụng đối với các trường hợp tại khoản 2 Điều 421, khoản 2 Điều 422 và khoản 2 Điều 423 Bộ luật Hình sự. Nghĩa là với một số tội phạm đặc biệt được pháp luật loại trừ, việc “thi hành mệnh lệnh” không làm mất trách nhiệm hình sự của người thực hiện.

Trọng tâm áp dụng trong thực tiễn

Khi xem xét một vụ việc, cần làm rõ chuỗi hành vi và trách nhiệm của từng người: ai ra mệnh lệnh, mệnh lệnh có thuộc phạm vi hợp pháp không, người thi hành đã báo cáo đến mức nào, và thiệt hại phát sinh từ chính việc chấp hành mệnh lệnh hay từ hành vi vượt quá mệnh lệnh. Nếu người ra lệnh yêu cầu thực hiện dù đã được báo cáo đầy đủ, trách nhiệm hình sự chuyển trọng tâm sang người ra mệnh lệnh. Cách thiết kế này nhằm tránh việc đẩy toàn bộ rủi ro pháp lý cho cấp dưới trong môi trường quân lệnh cần sự chấp hành nhanh.

Lỗi hiểu sai thường gặp

Hiểu sai phổ biến nhất là cho rằng cứ “làm theo lệnh” thì đương nhiên được miễn trách nhiệm. Cách hiểu này không đúng, vì điều luật đặt ra điều kiện rất chặt về chủ thể, phạm vi nhiệm vụ, trình tự báo cáo và cả ngoại lệ loại trừ. Một nhầm lẫn khác là đồng nhất mọi mệnh lệnh của cấp trên với mệnh lệnh hợp pháp; trên thực tế, chỉ mệnh lệnh đáp ứng đúng khuôn khổ của điều luật mới có giá trị miễn trách nhiệm cho người thi hành.

Lưu ý khi vận dụng

Trong hồ sơ vụ việc, tài liệu về mệnh lệnh, báo cáo, phản hồi của người ra lệnh và bối cảnh nhiệm vụ là những chứng cứ then chốt. Nếu thiếu chứng cứ về việc đã báo cáo đúng quy trình, việc áp dụng Điều 26 sẽ rất khó được chấp nhận. Vì vậy, điều luật này không chỉ là quy tắc miễn trách nhiệm, mà còn là cơ chế phân định rõ ràng giữa người thi hànhngười ra mệnh lệnh trong những tình huống đặc thù của quốc phòng, an ninh.

Điều 26 có áp dụng cho mọi người nhận lệnh từ cấp trên không?
Không. Điều này chỉ áp dụng trong lực lượng vũ trang nhân dân và gắn với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Chỉ cần làm theo lệnh là được miễn trách nhiệm hình sự đúng không?
Không đúng. Phải có việc báo cáo đầy đủ người ra mệnh lệnh nhưng vẫn bị yêu cầu chấp hành.
Nếu đã thi hành đúng lệnh nhưng gây thiệt hại thì ai chịu trách nhiệm?
Người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình sự, nếu đủ điều kiện áp dụng Điều 26.
Điều 26 có áp dụng với mọi tội phạm không?
Không. Điều này loại trừ các trường hợp tại khoản 2 Điều 421, khoản 2 Điều 422 và khoản 2 Điều 423 Bộ luật Hình sự.
Cần chứng cứ gì để áp dụng Điều 26?
Cần tài liệu chứng minh mệnh lệnh, việc báo cáo lại, phản hồi của người ra lệnh và mối liên hệ giữa mệnh lệnh với thiệt hại.
Mục lục văn bản