Điều 252 Bộ luật hình sự 2015: Tội chiếm đoạt chất ma túy

Bình luận ngắn gọn Điều 252 BLHS 2015 về tội chiếm đoạt chất ma túy: dấu hiệu cấu thành, khung phạt và lưu ý áp dụng.

Điều 252. Tội chiếm đoạt chất ma túy

1. Người nào chiếm đoạt chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 249, 250, 251 và 256a của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

e) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

h) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

i) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

k) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

l) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

m) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;

n) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này;

o) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Ý nghĩa của quy định

Điều 252 được thiết kế để xử lý riêng hành vi chiếm đoạt chất ma túy, tức hành vi làm mất quyền quản lý hợp pháp đối với ma túy và đưa nó vào sự kiểm soát trái phép của người phạm tội. Nhà làm luật không chỉ nhìn vào hậu quả vật chất của hành vi mà còn coi đây là nguồn phát sinh nguy cơ cho các tội phạm ma túy tiếp theo.

Điểm đáng chú ý là điều luật không đòi hỏi người phạm tội phải thực hiện thêm hành vi mua bán, tàng trữ hay vận chuyển; chỉ cần hành vi chiếm đoạt thỏa mãn dấu hiệu luật định là có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, trong thực tiễn, việc phân biệt giữa chiếm đoạt với các hành vi ma túy khác là khâu then chốt để định tội đúng.

Các dấu hiệu cần kiểm tra khi áp dụng

Muốn áp dụng Điều 252, trước hết phải xác định có hành vi chiếm đoạt chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, sau đó mới đối chiếu loại chất và định lượng tương ứng với từng khung hình phạt. Điều luật phân hóa rất rõ theo nhóm chất ma túy cụ thể và theo ngưỡng khối lượng, thể tích, đồng thời có quy tắc riêng đối với trường hợp có từ 02 chất ma túy trở lên.

Khung cơ bản tại khoản 1 bao phủ nhiều ngưỡng định lượng thấp, còn các khoản 2, 3, 4 tăng dần theo tính chất tổ chức, tái phạm, lạm dụng chức vụ, sử dụng người dưới 16 tuổi và đặc biệt là khối lượng ma túy lớn. Đây là cách tiếp cận điển hình của luật hình sự trong lĩnh vực ma túy: vừa xử lý hành vi, vừa lượng hóa mức độ nguy hiểm để cá thể hóa hình phạt.

Những điểm dễ nhầm

Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng chỉ khi có hành vi mua bán thì mới cấu thành tội phạm về ma túy; thực tế, Điều 252 xử lý riêng hành vi chiếm đoạt và không phụ thuộc vào mục đích mua bán hay sử dụng sau đó. Một nhầm lẫn khác là bỏ qua vai trò của định lượng: cùng là chiếm đoạt chất ma túy nhưng chỉ cần vượt qua các ngưỡng luật định thì khung hình phạt đã thay đổi đáng kể.

Trong thực tiễn, cũng cần tránh gộp cơ học mọi hành vi liên quan đến ma túy vào cùng một tội danh. Việc xác định đúng bản chất hành vi phải đặt trong tương quan với các tội phạm ma túy khác như tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Lưu ý áp dụng thực tiễn

Khi giải quyết vụ việc, cơ quan tiến hành tố tụng cần làm rõ nguồn gốc ma túy bị chiếm đoạt, cách thức chiếm đoạt, chủ thể thực hiện và kết luận giám định về loại chất, khối lượng hoặc thể tích. Nếu có từ 02 chất ma túy trở lên, việc quy đổi tương đương theo luật là dữ kiện bắt buộc để xác định khung hình phạt đúng.

Khoản 5 cho phép áp dụng hình phạt bổ sung như phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc tịch thu tài sản, nên việc đánh giá nhân thân, vai trò và điều kiện phạm tội cũng có ý nghĩa trực tiếp đối với quyết định hình phạt. Trong thực tế xét xử, đây là điều luật cần được áp dụng chặt chẽ về định lượng nhưng không máy móc về bản chất hành vi, vì chỉ một sai lệch trong phân loại tội danh cũng làm thay đổi toàn bộ giới hạn trách nhiệm hình sự.

Điều 252 áp dụng khi nào?
Khi người phạm tội có hành vi chiếm đoạt chất ma túy và hành vi đó rơi vào một trong các trường hợp, ngưỡng định lượng hoặc tình tiết định khung mà điều luật quy định.[1][2]
Có cần chứng minh mục đích mua bán mới xử lý theo Điều 252 không?
Không. Điều 252 xử lý hành vi chiếm đoạt chất ma túy độc lập, không phụ thuộc vào mục đích mua bán hay sử dụng sau đó.[1][8]
Yếu tố nào quyết định khung hình phạt?
Chủ yếu là loại chất ma túy, khối lượng hoặc thể tích, số lượng chất cùng bị chiếm đoạt và các tình tiết như có tổ chức, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ quyền hạn.[1][2]
Có thể bị phạt ngoài hình phạt tù không?
Có. Khoản 5 cho phép áp dụng thêm phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc tịch thu một phần hay toàn bộ tài sản.[1][2]
Mục lục văn bản