Điều 246 Bộ luật hình sự 2015: Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại
Bình luận Điều 246 BLHS 2015 về tội nhập khẩu, phát tán loài ngoại lai xâm hại: dấu hiệu, ngưỡng truy cứu và lưu ý thực tiễn.
Điều 246. Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Nhập khẩu trái phép loài động vật, thực vật ngoại lai xâm hại hoặc loài động vật, thực vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại trong trường hợp vật phạm pháp trị giá từ 250.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc trong trường hợp vật phạm pháp trị giá dưới 250.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm;
b) Phát tán loài động vật, thực vật ngoại lai xâm hại hoặc loài động vật, thực vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại, gây thiệt hại về tài sản từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Nhập khẩu trái phép loài động vật, thực vật ngoại lai xâm hại hoặc loài động vật, thực vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại trong trường hợp vật phạm pháp trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
c) Phát tán loài động vật, thực vật ngoại lai xâm hại hoặc loài động vật, thực vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại, gây thiệt hại về tài sản 500.000.000 đồng trở lên;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 6.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Ý nghĩa của điều luật
Điều 246 thể hiện cách tiếp cận phòng ngừa đối với rủi ro môi trường: loài ngoại lai xâm hại có thể gây thiệt hại lớn, lan rộng và khó kiểm soát nếu để phát tán trong tự nhiên. Vì vậy, điều luật không chỉ nhắm vào hành vi nhập khẩu trái phép mà còn xử lý hành vi phát tán khi đã gây hậu quả đáng kể. Cách thiết kế này cho thấy nhà làm luật ưu tiên ngăn chặn ngay từ khâu đưa loài xâm hại vào lãnh thổ hoặc để chúng lan truyền trong môi trường.
Điểm cần nắm khi áp dụng
Đây là tội phạm có dấu hiệu hậu quả rõ rệt, đặc biệt ở hành vi phát tán: phải có thiệt hại về tài sản đạt ngưỡng luật định thì mới đặt ra trách nhiệm hình sự. Với hành vi nhập khẩu trái phép, luật gắn trách nhiệm hình sự với giá trị vật phạm pháp hoặc trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm. Nói cách khác, yếu tố quyết định không chỉ là hành vi vi phạm, mà còn là mức độ nguy hiểm đã được lượng hóa bằng giá trị hoặc thiệt hại.
Phạm vi bảo vệ của điều luật bao gồm cả loài động vật, thực vật ngoại lai xâm hại và loài có nguy cơ xâm hại. Đây là điểm quan trọng vì thực tiễn dễ nhầm rằng chỉ khi loài đã chính thức bị xác định là xâm hại mới bị xử lý. Trên thực tế, pháp luật đã mở rộng sang loài có nguy cơ xâm hại để ngăn ngừa thiệt hại trước khi hậu quả xảy ra.
Cấu thành và ranh giới truy cứu
Mặt khách quan của tội phạm gồm hai nhóm hành vi: nhập khẩu trái phép và phát tán trong lãnh thổ Việt Nam. Tội phạm được xác lập khi hành vi gắn với điều kiện hậu quả hoặc giá trị được luật quy định; vì vậy, đây không phải là tội chỉ cần có hành vi là đủ trong mọi trường hợp. Mặt chủ quan là lỗi cố ý, còn động cơ, mục đích không phải dấu hiệu bắt buộc để định tội.
Khung hình phạt được phân hóa theo mức độ nguy hiểm: khung cơ bản áp dụng cho trường hợp đạt ngưỡng định tội; khung nặng hơn áp dụng khi có tổ chức, giá trị vật phạm pháp cao hơn, thiệt hại lớn hơn hoặc tái phạm nguy hiểm. Với pháp nhân thương mại, chế tài chủ yếu là phạt tiền và có thể bị đình chỉ hoạt động hoặc cấm kinh doanh, phản ánh đúng tính chất quản lý - kinh doanh của hành vi vi phạm. Đây là dấu hiệu cho thấy điều luật hướng mạnh vào việc kiểm soát các chủ thể tham gia nhập khẩu, kinh doanh, vận chuyển hoặc phát tán sinh vật ngoại lai bằng hoạt động có tổ chức.
Những hiểu nhầm thường gặp
Không phải mọi hành vi mang sinh vật ngoại lai vào Việt Nam đều tự động cấu thành tội phạm. Nếu chưa đạt ngưỡng luật định hoặc chưa có điều kiện truy cứu, hành vi có thể chỉ bị xử lý hành chính. Cũng không nên nhầm lẫn giữa nhập khẩu trái phép và phát tán: hai hành vi này có dấu hiệu hậu quả, điều kiện định tội và cách chứng minh khác nhau.
Một nhầm lẫn khác là chỉ cần có thiệt hại môi trường là đủ. Điều luật này lại lượng hóa thiệt hại chủ yếu bằng giá trị tài sản, nên khi áp dụng phải chứng minh đúng loại hậu quả mà luật yêu cầu. Đây là điểm có ý nghĩa thực tiễn lớn trong điều tra, giám định và định tội.
Lưu ý khi xử lý tình huống cụ thể
Khi xem xét một vụ việc theo Điều 246, cần xác định trước hết loài sinh vật liên quan có thuộc nhóm ngoại lai xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại hay không. Sau đó phải làm rõ hành vi là nhập khẩu hay phát tán, có trái phép hay không, và đã phát sinh đủ ngưỡng hậu quả theo từng khoản hay chưa. Nếu thiếu một trong các dấu hiệu định tội, việc áp dụng trách nhiệm hình sự sẽ không vững.
Trong thực tiễn, việc định giá vật phạm pháp và xác định thiệt hại là khâu then chốt, vì đây là căn cứ phân biệt giữa xử lý hành chính, khung cơ bản và khung tăng nặng. Do đó, Điều 246 không chỉ là quy định hình sự mà còn là căn cứ phối hợp giữa quản lý chuyên ngành, giám định, định giá và xử lý tội phạm môi trường.