Điều 244 Bộ luật hình sự 2015: Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm

Bình luận ngắn gọn Điều 244 BLHS 2015 về tội vi phạm quy định bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, trọng tâm áp dụng và lưu ý thực tiễn.

Điều 244. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm

1.[221] Người nào vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;

b) Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật quy định tại điểm a khoản này;

c) Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép ngà voi có khối lượng từ 02 kilôgam đến dưới 20 kilôgam; sừng tê giác có khối lượng từ 50 gam đến dưới 01 kilôgam;

d) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp mà không thuộc loài quy định tại điểm a khoản này với số lượng từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 cá thể đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cá thể động vật lớp khác;

đ) Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 cá thể đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cá thể động vật lớp khác quy định tại điểm d khoản này;

e) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoặc tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật có số lượng dưới mức quy định tại các điểm c, d và đ khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

2.[222] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Số lượng động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 cá thể đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cá thể động vật lớp khác quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;

b) Số lượng động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 08 cá thể đến 11 cá thể lớp thú, từ 11 cá thể đến 15 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 16 cá thể đến 20 cá thể động vật lớp khác quy định tại điểm d khoản 1 Điều này;

c) Từ 01 cá thể đến 02 cá thể voi, tê giác hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 01 cá thể đến 02 cá thể voi, tê giác; từ 03 cá thể đến 05 cá thể gấu, hổ hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 03 cá thể đến 05 cá thể gấu, hổ;

d) Ngà voi có khối lượng từ 20 kilôgam đến dưới 90 kilôgam; sừng tê giác có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 09 kilôgam;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

g) Sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cấm;

h) Săn bắt trong khu vực bị cấm hoặc vào thời gian bị cấm;

i) Buôn bán, vận chuyển qua biên giới;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3.[223] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Số lượng động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của 08 cá thể lớp thú trở lên, 11 cá thể lớp chim, bò sát trở lên hoặc 16 cá thể động vật lớp khác trở lên quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;

b) Số lượng động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của 12 cá thể lớp thú trở lên, 16 cá thể lớp chim, bò sát trở lên hoặc 21 cá thể động vật lớp khác trở lên quy định tại điểm d khoản 1 Điều này;

c) Từ 03 cá thể voi, tê giác trở lên hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của 03 cá thể voi, tê giác trở lên; 06 cá thể gấu, hổ trở lên hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của 06 cá thể gấu, hổ trở lên;

d) Ngà voi có khối lượng 90 kilôgam trở lên; sừng tê giác có khối lượng 09 kilôgam trở lên.

4.[224] Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

5.[225] Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, g, h, i và k khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 10.000.000.000 đồng đến 20.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 20.000.000.000 đồng đến 30.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;

d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 600.000.000 đồng đến 1.200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Ý nghĩa lập pháp

Điều 244 thể hiện chủ trương xử lý hình sự mạnh tay đối với hành vi xâm hại các loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng hoặc có giá trị bảo tồn đặc biệt. Cách thiết kế điều luật cho thấy nhà làm luật không chỉ ngăn chặn hành vi săn bắt trực tiếp, mà còn đánh vào toàn bộ chuỗi hành vi liên quan như tàng trữ, vận chuyển, buôn bán và trung chuyển. Đây là nhóm tội phạm có tính chất xuyên biên giới, gắn với động cơ lợi nhuận và tác động trực tiếp đến đa dạng sinh học.

Điểm cần nắm khi áp dụng

Điều luật không áp dụng cho mọi loài động vật, mà chỉ áp dụng với loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc loài thuộc Nhóm IB, Phụ lục I CITES theo phạm vi mà điều luật xác định. Yếu tố quyết định là đối tượng tác độnghành vi cụ thể; chỉ cần một trong các hành vi được liệt kê như săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép thì đã có thể phát sinh trách nhiệm hình sự khi đủ điều kiện của từng khoản. Với một số trường hợp, điều luật còn lượng hóa theo số lượng cá thể, khối lượng ngà voi, sừng tê giác hoặc tình trạng tái phạm, nên việc định danh chính xác tang vật là khâu then chốt.

Ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm

Điều 244 có cấu trúc ngưỡng rất rõ: dưới ngưỡng định lượng thì chưa mặc nhiên cấu thành tội phạm, trừ trường hợp người vi phạm đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về chính hành vi này mà còn vi phạm. Cách thiết kế này cho thấy điều luật vừa bảo đảm tính răn đe, vừa tạo ranh giới pháp lý giữa xử phạt hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong thực tiễn, sai lầm thường gặp là chỉ nhìn vào việc “có động vật hoang dã” mà bỏ qua yêu cầu phải xác định đúng nhóm loài, số lượng, khối lượng và tình trạng pháp lý của tang vật.

Những tình tiết làm tăng nặng đáng chú ý

Khung hình phạt tăng lên rõ rệt khi hành vi có tổ chức, lợi dụng chức vụ quyền hạn, dùng công cụ săn bắt bị cấm, thực hiện trong khu vực hoặc thời gian bị cấm, hoặc buôn bán, vận chuyển qua biên giới. Điều này phản ánh quan điểm xử lý nghiêm các hành vi có tính chuyên nghiệp, có sự chuẩn bị hoặc gắn với mạng lưới tiêu thụ xuyên quốc gia. Với ngà voi, sừng tê giác, chỉ cần vượt mốc định lượng cao hơn là mức hình phạt đã dịch chuyển sang khung nặng hơn.

Pháp nhân thương mại cũng có thể bị xử lý

Điều 244 không chỉ hướng tới cá nhân mà còn áp dụng đối với pháp nhân thương mại nếu hành vi được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân và có sự chỉ đạo hoặc chấp thuận của pháp nhân. Đây là điểm rất quan trọng trong các vụ việc liên quan đến kinh doanh, kho bãi, vận tải, xuất nhập khẩu hoặc trung gian thương mại. Khi xác định trách nhiệm pháp nhân, cần tách bạch rõ vai trò của tổ chức và hành vi cá nhân thực hiện để tránh bỏ lọt hoặc quy trách nhiệm sai chủ thể.

Lưu ý thực tiễn

Trong thực tiễn tố tụng, việc giám định, định loại loài và xác định khối lượng, số lượng tang vật có ý nghĩa quyết định đối với việc định tội và định khung. Với tang vật là bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm, cần làm rõ đó có phải là bộ phận không thể tách rời sự sống hay không, vì đây là tiêu chí trực tiếp mà điều luật sử dụng. Ngoài ra, khi vụ việc có nhiều loài hoặc nhiều nhóm lớp động vật, việc cộng gộp hay tách riêng phải bám sát hướng dẫn áp dụng pháp luật để tránh xác định sai ngưỡng truy cứu.

Những hiểu nhầm thường gặp

Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng chỉ hành vi giết hoặc săn bắt mới bị xử lý hình sự, trong khi điều luật còn bao quát cả nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển và buôn bán trái phép. Nhầm lẫn thứ hai là coi mọi trường hợp có động vật quý hiếm đều đương nhiên cấu thành tội phạm, trong khi điều luật luôn gắn với danh mục loài và các ngưỡng định lượng hoặc tình trạng tái phạm. Nhầm lẫn thứ ba là tách rời việc xử lý hình sự với yếu tố pháp nhân, trong khi pháp nhân thương mại cũng là chủ thể có thể bị áp dụng chế tài rất nặng theo chính điều này.

Điều 244 áp dụng cho những loài nào?
Chỉ áp dụng với loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc loài thuộc Nhóm IB, Phụ lục I CITES theo phạm vi điều luật quy định.
Chỉ tàng trữ ngà voi, sừng tê giác có bị xử lý hình sự không?
Có, nếu đạt ngưỡng khối lượng luật định hoặc thuộc trường hợp tái phạm, đã bị xử phạt hành chính hay đã bị kết án mà còn vi phạm.
Nuôi nhốt động vật nguy cấp, quý, hiếm có phải là tội phạm không?
Có, nếu việc nuôi nhốt trái phép thuộc đúng nhóm loài và thỏa điều kiện về số lượng, khối lượng hoặc các tình tiết định khung của Điều 244.
Pháp nhân thương mại có bị truy cứu theo Điều 244 không?
Có. Nếu hành vi được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân và đáp ứng điều kiện luật định, pháp nhân thương mại có thể bị phạt tiền hoặc đình chỉ hoạt động.
Điều 244 khác gì Điều 234 Bộ luật Hình sự?
Điều 244 bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm; còn Điều 234 điều chỉnh hành vi liên quan đến động vật hoang dã theo phạm vi loài và cấu trúc định tội khác nhau.
Mục lục văn bản