Điều 239 Bộ luật hình sự 2015: Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam
Bình luận pháp lý Điều 239 BLHS 2015 về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam: cấu thành, ngưỡng định lượng, pháp nhân thương mại.
Điều 239. Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam
1. Người nào đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 400.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đưa từ 1.000 kilôgam đến dưới 3.000 kilôgam chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy hoặc từ 3.000 kilôgam đến dưới 10.000 kilôgam chất thải nguy hại khác;
b) Đưa từ 70.000 kilôgam đến dưới 170.000 kilôgam chất thải khác.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Đưa từ 3.000 kilôgam đến dưới 5.000 kilôgam chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy hoặc từ 10.000 kilôgam đến dưới 50.000 kilôgam chất thải nguy hại khác;
c) Đưa từ 170.000 kilôgam đến dưới 300.000 kilôgam chất thải khác.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 4.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Đưa 5.000 kilôgam trở lên chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy hoặc 50.000 kilôgam trở lên chất thải nguy hại khác;
b) Đưa 300.000 kilôgam trở lên chất thải khác.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 6.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 01 năm;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 10.000.000.000 đồng đến 14.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm;
d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm.
Ý nghĩa của điều luật
Điều 239 được thiết kế để ngăn chặn từ sớm nguy cơ ô nhiễm môi trường phát sinh từ việc nhập khẩu, đưa vào Việt Nam các loại chất thải không được phép tiếp nhận. Mục tiêu không chỉ là xử lý hậu quả môi trường, mà còn răn đe các hành vi lợi dụng thương mại, logistics hoặc giao dịch xuyên biên giới để tuồn chất thải vào lãnh thổ Việt Nam trái quy định. Đây là tội danh có tính phòng ngừa cao, vì chỉ cần hành vi đưa chất thải trái pháp luật đã có thể bị truy cứu, không đòi hỏi phải chờ hậu quả ô nhiễm xảy ra.
Điểm mấu chốt khi áp dụng
Yếu tố trung tâm của tội phạm này là hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam trái pháp luật. Khi xem xét trách nhiệm hình sự, cơ quan áp dụng pháp luật phải xác định đúng loại chất thải, khối lượng và ngưỡng định lượng tương ứng với từng khoản; đây là căn cứ phân hóa khung hình phạt. Đối với chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng hoặc chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm, chỉ cần đạt mức từ 1.000 kilôgam trở lên đã có thể bị xử lý hình sự ở khoản 1 theo nội dung điều luật được cập nhật.
Điều luật cũng phân biệt rõ giữa chất thải nguy hại và chất thải khác, vì ngưỡng định lượng đối với chất thải khác cao hơn nhiều. Cách thiết kế này cho thấy nhà làm luật đánh giá mức độ nguy hiểm không chỉ theo khối lượng mà còn theo bản chất độc hại của chất thải. Trong thực tiễn, việc xác định sai loại chất thải hoặc nhầm lẫn giữa chất thải thông thường với chất thải nguy hại là lỗi áp dụng thường gặp và có thể dẫn đến định khung sai.
Những hiểu nhầm thường gặp
Không phải mọi trường hợp “nhập hàng” có kèm phế liệu đều đương nhiên cấu thành tội phạm; điều luật chỉ điều chỉnh hành vi trái pháp luật. Vì vậy, cần tách bạch giữa hoạt động nhập khẩu hợp pháp theo quy định chuyên ngành và việc đưa chất thải vào Việt Nam không có căn cứ pháp lý, vượt điều kiện cho phép hoặc bị cấm. Một nhầm lẫn khác là cho rằng chỉ doanh nghiệp mới bị xử lý; thực tế, cá nhân thực hiện hành vi và pháp nhân thương mại đều có thể là chủ thể của tội này.
Không nên đồng nhất Điều 239 với tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại. Điều 239 xử lý hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam, tức hành vi có yếu tố xuyên biên giới; còn các tội về quản lý chất thải nguy hại tập trung vào việc lưu giữ, xử lý, chôn lấp hoặc thải bỏ trong nội địa. Nhận diện đúng ranh giới này là điều kiện quan trọng để định tội chính xác.
Lưu ý thực tiễn
Trong vụ việc cụ thể, cần chứng minh đồng thời ba nhóm vấn đề: có hành vi đưa chất thải vào Việt Nam, việc đưa vào là trái pháp luật, và khối lượng/loại chất thải đạt ngưỡng truy cứu tương ứng. Nếu có dấu hiệu tổ chức, áp dụng khung tăng nặng là bắt buộc theo cấu trúc của điều luật. Khi chủ thể là pháp nhân thương mại, phải đối chiếu riêng khoản 5 để xác định mức phạt tiền, đình chỉ hoạt động hoặc cấm kinh doanh, không mặc nhiên áp dụng như đối với cá nhân.
Điều này cho thấy chính sách hình sự của Việt Nam là xử lý nghiêm hành vi “chuyển tải” ô nhiễm từ nước ngoài vào trong nước, đồng thời buộc các chủ thể kinh doanh phải kiểm soát chặt nguồn gốc hàng hóa, nguyên liệu và phế thải trong chuỗi cung ứng. Trong thực hành, hồ sơ chứng từ, khai báo hải quan, kết quả giám định chất thải và nguồn gốc hàng hóa là các tài liệu then chốt để xác định trách nhiệm hình sự.