Điều 236 Bộ luật hình sự 2015: Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại

Bình luận pháp lý Điều 236 BLHS 2015 về tội vi phạm quản lý chất thải nguy hại, trọng tâm cấu thành và ngưỡng truy cứu.

Điều 236. Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại

1. Người nào có thẩm quyền mà cho phép chôn, lấp, đổ, thải trái quy định của pháp luật chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy từ 3.000 kilôgam đến dưới 5.000 kilôgam; chất thải có chứa chất phóng xạ, gây nhiễm xạ môi trường thuộc nguồn phóng xạ loại có mức độ nguy hiểm dưới trung bình theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn bức xạ - phân nhóm và phân loại nguồn phóng xạ vượt quy chuẩn cho phép, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 02 năm đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 400.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

a) Chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy từ 5.000 kilôgam đến dưới 10.000 kilôgam; chất thải có chứa chất phóng xạ, gây nhiễm xạ môi trường thuộc nguồn phóng xạ loại có mức độ nguy hiểm trung bình theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn bức xạ - phân nhóm và phân loại nguồn phóng xạ vượt quy chuẩn cho phép;

b) Có tổ chức;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc trường hợp chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy 10.000 kilôgam trở lên; chất thải có chứa chất phóng xạ, gây nhiễm xạ môi trường thuộc nguồn phóng xạ loại có mức độ nguy hiểm trên trung bình theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn bức xạ - phân nhóm và phân loại nguồn phóng xạ vượt quy chuẩn cho phép, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Trọng tâm của điều luật

Điều 236 không xử lý mọi vi phạm hành chính trong quản lý chất thải nguy hại, mà chỉ “kích hoạt” trách nhiệm hình sự khi hành vi chôn, lấp, đổ, thải trái quy định đạt ngưỡng định lượng và đúng loại chất thải mà điều luật đặt ra. Điểm đáng chú ý là điều luật nhắm mạnh vào người có thẩm quyền hoặc chủ thể thực hiện việc cho phép, tổ chức hoặc thực hiện việc thải bỏ trái phép, tức là nhóm có khả năng quyết định hoặc kiểm soát quá trình xử lý chất thải.

Ý chí lập pháp

Mục tiêu của điều luật là bảo vệ môi trường theo hướng phòng ngừa sớm đối với những chất thải có mức độ nguy hại đặc biệt cao, nhất là chất thải chứa thành phần nguy hại đặc biệt, chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm hoặc chất thải có chứa chất phóng xạ. Việc quy định ngưỡng khối lượng và mức độ nguy hiểm cho thấy lập pháp không chỉ quan tâm đến hành vi trái phép, mà còn chú trọng ngưỡng rủi ro và khả năng lan truyền hậu quả trên diện rộng.

Các yếu tố cần lưu ý khi áp dụng

Để áp dụng Điều 236, cần xác định đồng thời: có hành vi chôn, lấp, đổ, thải trái pháp luật; loại chất thải thuộc nhóm được điều luật liệt kê; và khối lượng, mức nguy hiểm đạt ngưỡng tương ứng của từng khoản. Đây là điều luật có cấu trúc định lượng chặt, nên nếu chưa đạt ngưỡng hoặc không đúng loại chất thải, việc xử lý hình sự thường không đặt ra theo điều này.

Khoản 1, khoản 2 và khoản 3 phân hóa trách nhiệm theo mức độ nguy hiểm tăng dần, trong đó các tình tiết như có tổ chức, phạm tội 02 lần trở lên, tái phạm nguy hiểm là căn cứ làm tăng nặng độc lập với khối lượng chất thải. Điều này thể hiện quan điểm xử lý nghiêm không chỉ hậu quả môi trường, mà cả phương thức phạm tội có tính chuyên nghiệp hoặc lặp lại.

Những cách hiểu sai thường gặp

Thứ nhất, không nên đồng nhất mọi vi phạm trong thu gom, vận chuyển hay lưu giữ chất thải nguy hại với tội này; Điều 236 tập trung vào hành vi cho phép hoặc thực hiện chôn, lấp, đổ, thải trái quy định đối với nhóm chất thải đặc biệt nguy hại và đạt ngưỡng luật định. Thứ hai, không phải cứ có chất thải nguy hại là đủ cấu thành tội; phải kiểm tra đúng thành phần, đúng ngưỡng khối lượng, và đúng tính chất phóng xạ hoặc chất phải loại trừ theo quy định.

Thứ ba, hình phạt không chỉ dừng ở phạt tù hoặc phạt tiền chính, mà còn có thể kèm cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Vì vậy, trong thực tiễn, điều luật này thường tác động mạnh đến người quản lý doanh nghiệp, đơn vị vận hành xử lý chất thải và cá nhân có thẩm quyền phê duyệt phương án thải bỏ.

Lưu ý khi xử lý tình huống cụ thể

Khi xem xét một vụ việc, cần ưu tiên kiểm tra hồ sơ phân loại chất thải, kết quả quan trắc, chứng từ vận chuyển - xử lý và thẩm quyền của người ra quyết định cho phép thải bỏ. Nếu thiếu căn cứ xác định loại chất thải hoặc định lượng vượt ngưỡng, việc quy kết theo Điều 236 sẽ không vững chắc về mặt cấu thành tội phạm. Trong các vụ có yếu tố phóng xạ, tiêu chí về mức độ nguy hiểm và quy chuẩn an toàn bức xạ là dữ kiện bắt buộc phải đối chiếu.

Điều 236 có xử lý mọi hành vi vi phạm về chất thải nguy hại không?
Không. Điều này chỉ xử lý hành vi chôn, lấp, đổ, thải trái quy định đối với nhóm chất thải nguy hại đặc biệt, đạt đúng ngưỡng và điều kiện luật định.
Chủ thể của tội này có bắt buộc là người có thẩm quyền không?
Trọng tâm của điều luật là người có thẩm quyền cho phép hoặc kiểm soát việc thải bỏ trái pháp luật, nhưng việc xác định chủ thể phải đối chiếu đúng vai trò thực tế và hành vi.
Có phải cứ có chất thải nguy hại là bị truy cứu theo Điều 236?
Không. Cần có loại chất thải thuộc nhóm luật định và khối lượng hoặc mức độ nguy hiểm đạt ngưỡng tương ứng của từng khoản.
Tình tiết nào làm tăng nặng trách nhiệm theo Điều 236?
Có tổ chức, phạm tội nhiều lần, tái phạm nguy hiểm và mức độ nguy hại cao hơn đều là căn cứ làm tăng mức hình phạt.
Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng gì?
Có thể bị phạt tiền bổ sung, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Mục lục văn bản