Điều 234 Bộ luật hình sự 2015: Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã
Bình luận ngắn gọn Điều 234 BLHS 2015: phạm vi áp dụng, dấu hiệu cấu thành, tình tiết định khung và lưu ý thực tiễn.
Điều 234. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã
1.[202] Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 242 và Điều 244 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp trị giá từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc động vật hoang dã khác trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 700.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
b) Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp trị giá từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc của động vật hoang dã khác trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 700.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
c) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của động vật thu lợi bất chính hoặc trị giá dưới mức quy định tại điểm a, điểm b khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
2.[203] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
d) Sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cấm;
đ) Săn bắt trong khu vực bị cấm hoặc vào thời gian bị cấm;
e) Vận chuyển, buôn bán qua biên giới;
g) Động vật, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng hoặc của động vật hoang dã khác trị giá từ 700.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;
h) Thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
i) Tái phạm nguy hiểm.
3.[204] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:
a) Động vật, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên hoặc của động vật hoang dã khác trị giá 1.500.000.000 đồng trở lên;
b) Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;
b)[205] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, d, đ, e, g, h và i khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 6.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Ý nghĩa lập pháp
Điều 234 được xây dựng để kiểm soát toàn bộ chuỗi hành vi liên quan đến động vật hoang dã, từ săn bắt, nuôi, nhốt đến vận chuyển, buôn bán trái phép. Quy định này phản ánh quan điểm xử lý hình sự không chỉ đối với hành vi xâm hại trực tiếp, mà cả các hành vi hậu quả và trung gian làm phát sinh thị trường tiêu thụ. Cách thiết kế các ngưỡng giá trị, thu lợi bất chính và tình tiết tăng nặng cho thấy mục tiêu phân hóa trách nhiệm theo mức độ nguy hiểm thực tế.
Điểm cần nắm khi áp dụng
Điều luật này chỉ áp dụng đối với động vật hoang dã thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc Phụ lục II Công ước CITES, đồng thời loại trừ trường hợp thuộc Điều 242 và Điều 244 Bộ luật Hình sự. Theo Nghị quyết 05/2018/NQ-HĐTP, đây là căn cứ quan trọng để xác định đúng phạm vi điều chỉnh của tội danh. Nếu xác định sai nhóm loài, sai tính chất hành vi hoặc nhầm sang tội danh khác, việc truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ không chính xác.
Về mặt cấu thành, tội phạm thường được “kích hoạt” khi có một trong ba nhóm dấu hiệu chính: giá trị tang vật đạt ngưỡng luật định; thu lợi bất chính đạt ngưỡng luật định; hoặc hành vi dưới ngưỡng nhưng đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về tội này mà chưa được xóa án tích. Đây là điểm rất quan trọng vì Điều 234 không chỉ xử lý theo giá trị kinh tế, mà còn xử lý theo tiền sử vi phạm. Cách thiết kế này nhằm ngăn chặn tình trạng tái phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã.
Những nhầm lẫn thường gặp
Một nhầm lẫn phổ biến là coi mọi hành vi liên quan đến động vật hoang dã đều thuộc Điều 234. Thực tế, nếu hành vi thuộc nhóm động vật được ưu tiên bảo vệ hoặc nhóm luật định khác, phải xem xét Điều 244; nếu bản chất là hủy hoại nguồn lợi thủy sản thì phải xem xét Điều 242. Việc xác định sai điều luật áp dụng là lỗi thường gặp nhất trong thực tiễn xử lý.
Một nhầm lẫn khác là cho rằng chỉ hành vi săn bắt mới cấu thành tội phạm. Điều 234 còn bao gồm nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép; vì vậy, người giữ, chở thuê, cất kho hoặc tham gia trung gian tiêu thụ vẫn có thể bị xử lý nếu đủ yếu tố cấu thành. Với một số hành vi, cần đặc biệt chú ý đến đối tượng tác động là cá thể sống hay bộ phận cơ thể, sản phẩm của động vật để tránh xác định sai bản chất hành vi.
Lưu ý thực tiễn
Khi giải quyết vụ việc, cần làm rõ ngay từ đầu: loài động vật nào, thuộc danh mục nào, khối lượng hoặc giá trị bao nhiêu, thu lợi bất chính bao nhiêu, và người thực hiện có tiền sử xử phạt hoặc kết án hay không. Đây là các dữ kiện quyết định khung hình phạt. Với pháp nhân thương mại, chế tài tiền phạt và đình chỉ hoạt động được thiết kế riêng, nên cần tách bạch trách nhiệm của cá nhân với trách nhiệm của pháp nhân.
Cũng cần lưu ý rằng khoản 2 và khoản 3 của Điều 234 phân hóa rất rõ theo tình tiết định khung như có tổ chức, lợi dụng chức vụ, sử dụng công cụ bị cấm, vận chuyển qua biên giới, hoặc giá trị tang vật và thu lợi bất chính rất lớn. Trong thực tiễn, các tình tiết này thường đi kèm, nên việc đánh giá phải theo hướng tổng hợp toàn bộ hành vi chứ không chỉ nhìn vào một hành vi đơn lẻ. Đây là điều luật có tính răn đe mạnh, nên chứng cứ về loài, nguồn gốc, đường đi của tang vật và mục đích thu lợi giữ vai trò đặc biệt quan trọng.